NABOKOV

Humbert và Lolita

Phim Lolita.

Lolita

Phim Lolita

Lolita

Phim Lolita

Nabokov

Life

Lolita và Humbert

Phim Lolita

28 June 2013

Dick Tracy





Nhân vật thám tử Dick Tracy trong truyện tranh của Chester Gould được nhắc đến ở chương 18, phần II, Lolita với chi tiết chiếc mặt nạ Jutting Chin.

As happens with me at periods of electrical disturbance and crepitating lightnings, I had hallucinations. Maybe they were more than hallucinations. I do not know what she or he, or both had put into my liquor but one night I felt sure somebody was tapping on the door of our cabin, and I flung it open, and noticed two things—that I was stark naked and that, white-glistening in the rain-dripping darkness, there stood a man holding before his face the mask of Jutting Chin, a grotesque sleuth in the funnies.


25 June 2013

Cây Quan Hệ Gia Tộc (Tiếng Anh)


24 June 2013

Yak (Bò Tây Tạng)





Bò Tây Tạng (danh pháp khoa học: Bos grunniens) là một loài bò lông dài được tìm thấy trong suốt khu vực Himalaya ở miền nam Trung Á, bao gồm cao nguyên Thanh-Tạng và xa về phía bắc tới tận Mông Cổ. Ngoài các quần thể thuần hóa lớn còn có các quần thể nhỏ bò Tây Tạng hoang dã dễ thương tổn. Trong tiếng Tạng, từ gyag chỉ được dùng để nói tới các con đực của loài này; còn con cái được gọi là dri hay nak. Trong một số ngôn ngữ vay mượn từ gyag, như tiếng Anh, người ta dùng từ yak để chỉ cả hai giới.

Bò Tây Tạng sống thành bầy. Bò đực hoang dã cao khoảng 2–2,2 m (tính tới vai), bò cái cao khoảng 1,6 m, còn bò thuần hóa cao khoảng 1,6–1,8 m. Cả hai giới đều có lông dài và rậm bờm xờm để giúp chúng không bị lạnh. Bò hoang có màu đen hay nâu. Bò nhà có thể có màu trắng. Cả bò đực lẫn bò cái đều có sừng. Bò Tây Tạng có thể sống tới trên 20 năm.

Từ Yak này được Nabokov sử dụng trong một đoạn của chương 18, phần II, Lolita để tả chiếc xe mui xếp màu đỏ của Quilty:

I surmised, donc, that the Red Yak keeping behind us at a discreet distance mile after mile was operated by a detective whom some busybody had hired to see what exactly Humbert Humbert was doing with that minor stepdaughter of his.

19 June 2013

Chó St. Bernard






Trích chương 16, phần II, Lolita:

I have the European urge to use my feet when a drive can be dispensed with, so I leisurely walked down, eventually meeting the cyclist—a plain plump girl with pigtails, followed by a huge St. Bernard dog with orbits like pansies.


16 June 2013

Lịch sử tiến hóa của Logo hãng Mobil


Logo của hãng Mobil được bóng gió nhắc đến trong chương 16, phần II, Lolita:

We had stopped at a gas station, under the sign of Pegasus, and she had slipped out of her seat and escaped to the rear of the premises while the raised hood, under which I had bent to watch the mechanic’s manipulations, hid her for a moment from my sight.


Lịch sử tiến hóa của Logo hãng Shell


Logo của hãng Shell được bóng gió nhắc đến trong chương 16, phần II, Lolita:

She had found the toilet occupied and had crossed over to the sign of the Conche in the next block.

Chim Ruồi (hummingbird)


Chim Ruồi

Chim Ruồi

Farlow, with whom I had roamed those remote woods, was an admirable marksman, and with his .38 actually managed to hit a hummingbird, though I must say not much of it could be retrieved for proof—only a little iridescent fluff.

Trích chương 17, phần II, Lolita.

6 June 2013

Continental Divide (Chương 16, Lolita)

Trong chuyến đi thứ hai của Humbert và Lolita có xuất hiện thành phố Wace, nằm gần đường Phân Thủy Đại Lục (Continental Divide) của Mỹ. Thành phố này dường như không có thật, nhưng đường Continental Divide là có thật. Có thể thấy nó được vẽ bằng đường gạch màu đỏ ở hình dưới. Lưu ý rằng trong bản tiếng Nga, Nabokov thay Continental Divide bằng Скалистые Горы (Dãy Rocky). 




Trích đoạn Lolita, chương 16, phần II:

Farewell, Appalachia! Leaving it, we crossed Ohio, the three states beginning with “I,” and Nebraska—ah, that first whiff of the West! We travelled very leisurely, having more than a week to reach Wace, Continental Divide, where she passionately desired to see the Ceremonial Dances marking the seasonal opening of Magic Cave, and at least three weeks to reach Elphinstone, gem of a western State where she yearned to climb Red Rock from which a mature screen star had recently jumped to her death after a drunken row with her gigolo.

Bản tiếng Nga:


Прощай, Аппалачи! Покинув его, мы пересекли Огайо, три штата, начинающихся на "И", и Небраску – ах, это первое дуновение Запада! Мы уехали не спеша, так как у нас была целая неделя, чтобы достичь Уэйс, городок в Скалистых Горах, где ей страстно хотелось посмотреть на Обрядовые Пляски индейцев в день ежегодного открытия Магической Пещеры, и почти три недели, чтобы добраться до Эльфинстона, жемчужины одного из западных штатов, где ей мечталось взобраться на Красный Утес, с которого одна немолодая звезда экрана не так давно бросилась и убилась насмерть после пьяного скандала со своим сутенером.


4 June 2013

You là Ai?

Những đại từ nhân xưng, như đã biết, là một trong các khó khăn mà người dịch hay gặp, đặc biệt là khi dịch từ tiếng Anh và Nga. Với nhiều người đọc dễ dãi, chỉ cần biết có ông H yêu con L rồi ngủ với bà Z xong giết chết ông Q,... thì dịch sao cũng được vì họ đọc rất nhanh. Tuy nhiên nếu xem kỹ sẽ thấy có những bản dịch có các chỗ sai sót hết sức thô thiển về mặt logic và văn chương.

Chương 23, phần I, bản dịch Lolita có một đoạn nếu dịch máy móc là hỏng ngay, xin đưa ra ở đây để làm ví dụ. Do nguyên bản quá dài nên chỉ xin phép trích một đoạn liên quan:

Next morning I hastened to inspect the fragments of letters in my pocket. They had got too thoroughly mixed up to be sorted into three complete sets. I assumed that “… and you had better find it because I cannot buy …” came from a letter to Lo; and other fragments seemed to point to Charlotte’s intention of fleeing with Lo to Parkington, or even back to Pisky, lest the vulture snatch her precious lamb.

Đoạn văn này đơn giản, nằm trong cảnh vợ Humbert bị xe ô tô cán chết khi đi gửi ba lá thư, và Humbert nhận được ba lá thư này từ một bé gái tình cờ nhặt được chúng ngay tại hiện trường vụ tai nạn. Do sợ bị những người xung quanh phát giác (vì vợ Humbert chết trong lúc đang ghen tuông với Lolita), nên Humbert kín đáo lấy móng tay xé nát chúng trong túi quần, và sau đó, khi tỉnh rượu thì mò ra ghép lại xem. Do các mẩu thư đã bị xé nát và lẫn vào nhau (mixed up) nên ông ta không phân biệt được mẩu thư nào gửi cho ai, vậy nên mới có câu "I assumed that..." Vì tuy rằng trong thư xưng hô You and I nhưng Humbert không rõ là You ở đây là ai? Là Humbert hay là Lolita hoặc một ai đó khác. Sự khác biệt giữa cách dùng đại từ nhân xưng trong tiếng Anh và tiếng Việt đã thể hiện rất rõ ở ngữ cảnh này. 

Có một dịch giả đã dịch đoạn "I assumed that “… and you had better find it because I cannot buy ...” came from a letter to Lo;" thành ra là:

Tôi đồ rằng đoạn: "... tốt hơn là con phải tìm ra nó, bởi vì mẹ không thể mua được..." nằm trong bức thư gửi cho Lo;[...]

Dịch giả này chuyển YouI thành Con Mẹ, độc giả dễ tính đọc lướt sẽ thấy...cũng hay, nhưng sự thực là dịch như thế này thì câu sai hoàn toàn về logic. Humbert tại sao phải "đồ rằng" (assume) đoạn đó là trong bức thư gửi cho Lo nữa, vì thư đã xưng hô Mẹ Con với nhau quá rõ ra rồi. Dịch như vậy e rằng tương đối là ngô nghê, và hầu như không hiểu gì văn cảnh.

Lolita quả thực là một tác phẩm khó đọc và khó dịch, nhưng những lỗi nhỏ như thế này thì hoàn toàn có thể tránh được nếu dịch giả chịu đọc đi đọc lại, dịch đi dịch lại rất nhiều lần. 


2 June 2013

Khen Đại!



Dù rất kính trọng cố Giáo Sư Cao Xuân Hạo, dù gối đầu giường nhiều tác phẩm của ông, ví dụ như "Tiếng Việt, mấy vấn đề ngữ âm ngữ pháp ngữ nghĩa", nhưng tôi không thể nào đồng ý với quan điểm này của tác giả bài viết "Đề cho các bản dịch bớt sạn" đăng trên báo Lao Động

"Thêm vào đó, cách hình dung vừa nhắc còn giúp chúng ta hiểu rõ thêm nhờ đâu mà BD của các DG tiền bối (như Cao Xuân Hạo chẳng hạn) ít/hầu như hoàn toàn không mắc lỗi, tuy họ cũng bị cả thời gian lẫn hợp đồng DT với các nhà xuất bản thúc bách chẳng kém gì các DG hiện thời."

Liệu ông Nguyễn Đức Lương này đã đọc hết Chiến Tranh và Hòa Bình nguyên bản tiếng Nga chưa, mà dám nói ông Cao Xuân Hạo hầu như hoàn toàn không mắc lỗi? Để đọc được tác phẩm đồ sộ này bằng tiếng Nga cần không ít thời gian (có lẽ không dưới 1 năm với những người Việt cực giỏi tiếng Nga), nếu phải đối chiếu nó với bản dịch tiếng Việt nữa, thì chắc chắn phải mất không dưới 3 năm. Và tôi không tin là cho đến bây giờ ở VN đã có ai làm chuyện đó. Vậy mà cứ ông bà nào phê bình dịch thuật hiện đại cũng nói các cụ ngày xưa (bao gồm cả cụ Cao Xuân Hạo) dịch hầu như không mắc lỗi? 

Nói riêng về văn chương, thì một bản dịch càng mượt mà tiếng Việt bao nhiêu, thì chắc chắn nó càng sai nhiều bấy nhiêu. Văn chương của các đại văn hào không thể nào đơn giản và ngô nghê đến mức ai đọc cũng vào thun thút được, cũng thấy không có gì khó hiểu được, chưa kể đến sự khác biệt cực lớn giữa văn hóa châu Âu và văn hóa châu Á, đặc biệt tiếng Việt mình là một thứ tiếng gặp Tàu lai Tàu, gặp Pháp lai Pháp, gặp Nga lai Nga, gặp Anh cũng đắm đuối nằm lăn ra, tuy cái đó có tạo ra sức mạnh đặc thù cho ngôn ngữ của chúng ta, nhưng cũng tạo vô vàn khó khăn cho dịch giả. Văn chương đích thực không bao giờ đơn giản. Có những cuốn mà ngay người bản xứ họ còn đánh vật mới hiểu được phần nào (Sông Đông Êm Đềm, Ulysses,...) vậy mà đòi dịch ra tiếng Việt để trẻ trâu vừa đọc vừa lướt facebook cũng thấy hay, thấy mượt, thì có mà thánh cũng chả làm được. 

1 June 2013

Giống Chó Dackel

Chó Dackel


Chó Dachshund (Dackel) còn gọi là Chó datsun, lạp xưởng, xúc xích. Dachshund là giống chó thân dài, ngực nở, bụng hóp, hoạt bát, rắn chắc với 4 chân rất ngắn. Chúng tạo cho giống chó này một dáng vẻ độc đáo và đầy chất thông thái. Đầu thuôn dài, mắt hơi lồi, mõm dài với bộ hàm khoẻ mạnh cùng những chiếc răng vô cùng sắc bén. Mắt có hình ôvan, màu đỏ sẫm hoặc nâu đen, rất năng động và thân thiện. Tai khá linh hoạt và luôn buông lơ lửng ở hai bên má. Lông của giống chó lông ngắn mượt mà, bóng bảy và đồng nhất.

Dachshund là giống chó có nguồn gốc từ Đức, được biết đến như một loài chó săn nhỏ. Xuất hiện từ thế kỷ 15, nhưng giống chó này bắt đầu phát triển mạnh ở Đức vào thế kỷ thứ 17. Đến thế kỷ 19, Dachshund được đưa đến Hoa Kỳ và trở thành giống chó phổ biến cho đến ngày này. Tuy trở thành một loại thú cưng, không phải là một thợ săn, nhưng Dachshund vẫn duy trì được các đặc tính độc lập, can đảm và dũng cảm, rất cuốn hút và đem lại cảm giác vui tươi.

Sống động và tình cảm, kiêu hãnh và bạo dạn. Rất thận trọng và ranh mãnh, Dachshund rất thông minh và có thể tìm cách để dạy lại chủ nhân. Rất trung thành và quyến luyến với gia chủ. Xếp vào loại hơi khó dạy bảo. Bộc lộ rõ khả năng bảo vệ. Lúc còn nhỏ rất thích sủa và sủa khá to so với kích thước của chúng. Thích đào bới.