NABOKOV

Humbert và Lolita

Phim Lolita.

Lolita

Phim Lolita

Lolita

Phim Lolita

Nabokov

Life

Lolita và Humbert

Phim Lolita

30 June 2018

"Thanh âm" được in xong ngày 26 tháng 6 năm 2018


24 December 2017

Lolita: tái bản lần 12, in xong tháng 12 năm 2017



Lolita tái bản lần thứ 12. Có một số chỗ được biên tập lại, khá nhiều từ được phiên âm cho chính xác hơn để bản dịch thống nhất hơn. 

Như vậy, năm nay Lolita cũng tái bản được 3 lần, có thể gọi đó là một thành công của một bản dịch đã ra đời được 3 năm. Mặc dù, tất nhiên, nó không còn được bán nhanh và nhiều như năm đầu (chắc do anti-fan sủa hoài cũng mệt, mà dịch giả thì lười trả tiền thuê lấy vài con.)

4 December 2017

Tự sự về một kẻ đánh mất quê hương

HẢI ĐĂNG

Bài đăng trên báo Thời Nay, một ấn phẩm của Nhân Dân



Không bao giờ trở về nước Nga kể từ năm 1918, “tư cố hương” vì vậy là chủ đề lớn trong văn nghiệp của Vladimir Nabokov (1899 - 1977), mà minh chứng sống động nhất là “Pnin” - cuốn tiểu thuyết đem lại cho tác giả đề cử giải thưởng danh giá National Book Award năm 1958.



Nội dung của “Pnin” như nhan đề giản đơn của sách tường thuật quãng đời trầm lặng của vị GS gốc Nga Timofey Pnin. Đến Mỹ theo lời khuyên từ đồng nghiệp cũ, “giấc mơ Mỹ” của Pnin sớm kết thúc khi chỉ được phân công dạy tiếng Nga tại trường đại học địa phương Waindell. Khác biệt về văn hóa cùng sự sùng bái nghệ thuật Nga biến mọi hành động của Pnin trở thành một chuỗi hình ảnh kỳ quặc trong mắt các giảng viên và sinh viên đại học.

Mang nhiều nét tương đồng với cuộc đời V.Nabokov, hình tượng Pnin là một bức tự họa trào phúng của tác gia kiêm giáo sư văn chương thiên tài và cực đoan này. Như tiểu sử nhà văn, Pnin đã tham gia lực lượng “bạch vệ” phản cách mạng từ năm 18 tuổi. Khi nội chiến Nga kết thúc, Pnin đã lưu vong qua Đức, Pháp và cuối cùng đặt chân lên Mỹ. Nhưng không ở đâu mà Pnin được toại nguyện với việc ngợi ca ngôn ngữ Nga, được bình phẩm về những áng văn chương của Tolstoy hay chìm đắm trong miền thôn quê xứ bạch dương hoang vắng và bình yên. Tại Mỹ - “miền đất hứa”, người ta chỉ coi Pnin - như một “khách ở trọ” phiền nhiễu, xếp sau cả các giáo sư văn chương bất tài cùng những nhà nữ quyền nửa mùa. Bi kịch đến đỉnh điểm khi Pnin tình cờ xem được một bộ phim tài liệu Xô-viết “hết thảy là nghệ thuật thuần túy, những dịp hội hè đình đám, và niềm hân hoan trong các công việc tuy cực nhọc nhưng rất đáng tự hào”. Đôi mắt Pnin đã nhòa lệ, song thói ngoan cố vẫn khiến Pnin tự nhủ mình thật “kỳ quặc, lố bịch, nhục nhã”. Tác phẩm để mở kết thúc bằng chi tiết Pnin phải nghỉ việc dạy học tại Waindell.

Ẩn chứa cái nhìn và ngôn ngữ kể chuyện của một kẻ “thiếu quê hương” nhưng tiểu thuyết “Pnin” không sa vào những chủ đề phi chính trị của một vài nhà văn lưu vong như “người đương thời” Solzhenitsyn hay S. Rushdie sau này. Thay vào đó, bằng những hồi tưởng và vốn văn hóa uyên thâm của mình, V.Nabokov đã khéo léo phục dựng một đất nước Nga vĩ đại với nền nghệ thuật đáng khâm phục qua câu chuyện bi hài về GS Pnin “có đôi chân gầy guộc” cùng thứ “tiếng Anh trọ trẹ”.

Vốn là “gã hề trong rạp xiếc” văn chương với thú chơi chữ, phong cách giễu nhại hài hước đến cay nghiệt như nhận xét của I. Bunin, V.Nabokov đã “phù phép” những ngày tháng quạnh hiu của Pnin hóa thành tràng cười sảng khoái với nhiều độc giả. Nhưng sau tiếng cười ấy, người đọc phải rùng mình trước nỗi bất hạnh mà Pnin đang nếm trải chỉ vì sự bồng bột của tuổi trẻ, những nghịch cảnh do chiến tranh gây ra mà không ít tác phẩm văn học Xô-viết nổi tiếng như “Sông Đông êm đềm”, “Người thứ 41” từng lột tả thành công.

(Tiểu thuyết “Pnin”, Vladimir Nabokov, Thiên Lương dịch, NXB Văn học 2017).

2 December 2017

Dấu ấn của cảm thức lưu vong trong tiểu thuyết Nabokov

Mặc dù, "Lolita" là cuốn sách của Nabokov được độc giả biết đến nhiều nhất, nhưng "Pnin" đã tạo dựng danh tiếng cho ông với vai trò một nhà văn sử dụng ngôn ngữ Anh độc đáo.

Pnin là tiểu thuyết thứ 4 được viết bằng tiếng Anh của Nabokov. Từ khi bắt đầu xây dựng nhân vật Pnin, Nabokov đã có kế hoạch viết một loạt những câu chuyện về nhân vật này, để đăng trên tờ New Yorker, sau đó sẽ tập hợp lại thành một cuốn sách, nhằm đảm bảo thu nhập cho ông trong khi ông tìm cách liên hệ với các nhà xuất bản để in Lolita.

Khi Nabokov gửi bản thảo tiểu thuyết Pnin hoàn chỉnh cho vài nhà xuất bản của Mỹ vào mùa thu năm 1955, họ đã từ chối vì lý do là “quá ngắn”. Đến tháng 8/1956, Doubleday đã đồng ý xuất bản cuốn sách. Pnin chính thức có mặt trong các hiệu sách của nước Mỹ vào tháng 3 năm sau, và nhanh chóng nổi tiếng.

Tác phẩm tạo được cơn sốt trên đất Mỹ, biến Nabokov trở thành tác giả nổi tiếng. Ngay tuần thứ hai sau khi ra mắt, Pnin đã được tái bản và Nabokov được tạp chí Newsweek đánh giá là “một trong các nhà văn tinh tế nhất, hài hước nhất, cảm động nhất nước Mỹ ngày nay”. Pnin cũng được đề cử tranh giải National Book Award for Fiction năm 1958.

Tiểu thuyết Pnin của Nabokov với bản dịch Việt ngữ của Thiên Lương.


Pnin là câu chuyện về Timofey Pnin, một giáo sư lưu vong dạy tiếng Nga tại Waindell College ở New York. Tác  phẩm đã tái hiện lại một bức tranh hài hước nhưng đầy sầu muộn của tri thức Nga lưu vong, giữa cuộc sống đầy những phức tạp trên đất Mỹ hiện đại thực dụng.

Nabokov rời quê hương sau khi kết thúc những năm thiếu niên. Năm 1919, ông cùng gia đình đã tới được nước Anh và theo học tại Trinity College, Đại học Cambridge. Nabokov thành công trong việc hòa nhập với đời sống mới bằng thứ ngôn ngữ tiếng Anh hoàn hảo. Ông là một những câu chuyện thành công trong hàng ngũ những kẻ tha hương. Nabokov không chỉ sống như một nhà văn bằng ngôn ngữ mới, ông còn là tác giả nổi bật của nền văn học Mỹ hiện đại.

Tuy nhiên, trước khi Nabokov đạt được vinh quanh, bản thân ông cũng đã trải qua những bi kịch cá nhân cay đắng. Cha của ông đã bị một người Nga lưu vong khác giết. Anh trai ông, Sergei, cũng chịu sự khổ nhục và cái chết đau đớn tại một trại tập trung của Đức.

Bi kịch của gia đình cũng khiến mối tình của ông với Svetlana Siewert tan vỡ. Sau này, cuộc hôn nhân của ông với Véra Evseyevna Slonim cũng đem lại rất nhiều khốn khó cho gia đình bởi gốc gác Do Thái của bà.

Ngày 19/5/1940, Nabokov đến Mỹ không phải để tìm kiếm danh vọng và sự giàu có mà bởi sự tuyệt vọng cuối cùng để trốn thoát Đức Quốc xã, khi chúng bước chân vào Paris chỉ vài ngày sau đó.

Trước khi đến Mỹ, Nabokov đã trải qua hai thập kỷ sống lưu vong như một người đàn ông không quê hương ở Đức và Pháp. Ông, cũng giống như vô vàn những nhà văn lưu vong của thế kỷ 20 như Thomas Mann, Elias Canetti, Aleksandr Solzhenitsyn, Isaac Bashevis Singer, Czesław Miłosz và Joseph Brodsky… quá thấm thía những nỗi đau thương, nhung nhớ và mất mát của kẻ buộc phải rời bỏ quê hương, đã cùng nhau tạo nên những tác phẩm văn chương đầy day dứt về lớp người lưu vong này.

Giáo sư Pnin chính là một nhân vật khơi dậy sống động hình ảnh của một tri thức lưu vong. Nabokov đã biểu đạt sắc sảo những trải nghiệm của bản thân, đồng thời thâm nhập vào nội tâm kín đáo của nhân vật một cách đầy tinh tế, trìu mến, đã tạo nên một người đàn ông loay hoay hòa nhập với đời sống mới, khi tâm tư trĩu nặng những ưu sầu hoài nhớ về cố hương.

Như thường lệ, Nabokov thể hiện sự vượt trội của mình về chi tiết. Xuyên suốt cuốn tiểu thuyết, ông đặc biệt nhấn nhá với những khoảnh khắc xúc cảm bất chợt rung động của Pnin, đột ngột xen giữa những cảnh huống hài hước.

Như trong chương một của cuốn tiểu thuyết, sau những đoạn khiến khán giả bật cười vì sự “khờ khạo” của Pnin, trong cách ông đi nhầm tàu, cách ông phát âm tiếng Anh không rõ từ… chính là nhấn vào trạng thái cảm xúc của “Chút rờn rợn bắt nguồn từ cơn đau mới đây đang lôi cuốn sự chú ý mê hoặc của ông. Nó chỉ kéo dài vài nhịp tim”.

Cơn đau tim xuất hiện trong rất nhiều khoảnh khắc của cuộc đời Pnin. Liền sau đó là vô vàn những ảo ảnh của mất mát, chết chóc, chia lìa, buồn thảm xuất hiện trước mắt ông.

Chương một kết thúc ở đó, đầy nỗi buồn, và cũng chính là cánh cửa mở ra cho độc giả nhận diện về Pnin, một người đàn ông đầy những xúc cảm, suy tư và tử tế.

Ở những chương sau, hình thức câu chuyện vẫn diễn ra theo cách đó. Giữa những tình huống mắc kẹt của Pnin, Nabokov cho thấy sự thất bại của ông với cuộc sống ở Mỹ, bằng một chất văn chương nhiều nét châm biếm, hóm hỉnh nhưng cũng sâu thẳm nhiều cảm động.

Tâm hồn Pnin hoàn toàn khác biệt so với vẻ ngoài xấu xí, già nua, thất bại của ông. Tâm hồn Pnin là một tâm hồn đẹp đẽ, hoài vọng, lưu giữ những nét quyến rũ cố hữu của người Nga.

Cái cách ông đối xử với người vợ cũ, và cách ông chăm sóc Victor, con trai của vợ đã làm bật lên tính tử tế, ấm áp sâu xa của một tâm hồn đẹp. Hình ảnh Pnin rất ngốc khi nói tiếng Anh, nhưng lại trở nên sắc bén trong những tranh luận về văn chương Nga, ngôn ngữ Nga, về Lev Tolstoy hay Dostoyevsky….

Pnin sống ở Mỹ, nhưng lại đắm chìm trong một không gian nước Nga mộng mơ cũ kỹ. Nước Nga ấy cắm rễ sâu trong lòng ông, thường tấn công ông bằng nỗi nhớ quặn thắt, bằng lòng hoài nghi buốt nhói.

Pnin trên đất Mỹ cũng là hình ảnh một kẻ không nhà. Ông “lang thang” từ nhà trọ này tới nhà trọ kia. Với những phòng trọ đầy sách vở, ông vẫn cặm cụi học, đọc và dạy cái thứ tiếng đang ngày càng “hèn mọn”.

Cho đến chương cuối cùng, ông tìm được một ngôi nhà nhỏ, ở đó, ông bày biện nó giống như ngôi nhà trong giấc mơ của mình. Ngôi nhà nhỏ với những món đồ ấm áp mà ông từng khao khát có được từ những ngày còn ở quê nhà. Rốt cuộc, cuộc đời ông sau đó vẫn là phải không quê hương, không nhà ở.

Tiểu thuyết Pnin, cũng như hầu hết các tiểu thuyết của Nabokov đều ẩn giấu đầy những ẩn dụ, những lớp lang. Câu chuyện về một người đàn ông tha hương, hay là câu chuyện về một tâm hồn chỉ còn ký ức để trú ngụ, là sự cô đơn, lạc loài, hay chính là sự bất hạnh của thế hệ, trước những biến động của lịch sử. Tâm hồn sâu thẳm của con người vẫn là điều Nabokov cần mẫn khai mở.

Bối cảnh chính trong Pnin cũng là bối cảnh của biết bao nhiêu tri thức châu Âu khi đối diện với nền văn minh thực dụng của đất Mỹ, đã được nhìn nhận rõ trong môi trường đại học. Ở đó những người lưu vong hoài nhớ quá khứ của mình một cách bệnh hoạn, đầy cao quý nhưng đầy mộng du.

Môi trường đại học giống như một xã hội thu nhỏ, trong đó hành vi xã hội và chính trị có thể được quan sát rõ ràng trong mối tương tác của các nhân vật. Từ đó tạo ra những tình huống hài hước, đồng thời làm bật lên tâm tư yếu đuối của mỗi con người, trong xúc cảm lưu vong.

Nabokov là một thiên tài văn chương, vẫn luôn khiến độc giả thán phục bởi cách ông làm tỏa sáng những điều “nhỏ bé”. Pnin được viết quanh quẩn xung quanh một người đàn ông tầm thường là thế, nhưng lại là một cuốn tiểu thuyết khơi dậy lòng cảm động sâu sắc. Chính tình cảm là thứ đã khiến người đàn ông bình thường Pnin tỏa sáng. Tình cảm là thứ khiến độc giả say đắm tiểu thuyết Pnin.

Một người đàn ông tầm thường, có thể lẫn với vô vàn người trong đám đông, nhưng Nabokov đã lưu giữ Pnin lại, thâm nhập sâu vào thế giới tâm hồn ông, và tạo nên một kiệt tác văn chương buồn bã nhưng đẹp đẽ và dịu dàng về một con người.

Pnin là tác phẩm có vị trí quan trọng trong văn nghiệp của Nabokov.


Tiểu thuyết Pnin có tiền thân là một truyện ngắn, được sáng tác sau khi Nabokov hoàn thành cuốn tiểu thuyết độc đáo và đầy tranh cãi, Lolita. Với sự ám ảnh không dứt về thế giới đen tối của Humbert trong Lolita, Nabokov tạo ra Pnin. Nhân vật đó là một hình ảnh hoàn toàn trái ngược với Humbert.

Nếu Humbert đẹp trai quyến rũ, tiếp xúc với người vợ của mình chỉ với mục đích “gần gũi” cô con gái Lolita vừa 12 tuổi, thì Pnin lại là một người đàn ông xấu xí, có phần khờ khạo, nhưng tử tế, ấm áp. Cách Pnin đối xử với người vợ cũ hay cậu con trai của vợ, cũng đầy dịu dàng. Đó là cách Pnin tạo nên sự ấm áp.

Nỗi ám ảnh của Humbert chính là sự thèm khát, nỗi ám ảnh của Pnin là sự hoài nhớ… Ở họ là tất thảy đối lập, nhưng Nabokov dựng nên hai thế giới đối lập ấy đều từ một vẻ đẹp lộng lẫy, ám ảnh đến mức cực đoan. Cuối cùng, Pnin hay Humbert đều phải chịu đựng bi kịch, từ chính nỗi ám ảnh của họ, đầy khắc khoải nhưng luôn thật đẹp.

Nabokov đã từng chia sẻ rằng, trong Pnin ông đã tạo nên một nhân vật hoàn toàn mới, chưa từng xuất hiện trong cuốn sách nào khác của ông. Pnin là một người đàn ông thuần khiết, có đạo đức, lòng can đảm. Ông là một học giả, một người bạn trung thành, một người yêu sâu nặng. Với Nabokov, Pnin là một sự an ủi.

Thủy Nguyệt
https://news.zing.vn/dau-an-cua-cam-thuc-luu-vong-trong-tieu-thuyet-nabokov-post800132.html

10 October 2017

Pnin của Nabokov: Biết thua trong danh dự!

Là con trai của một chính trị gia giàu có của nước Nga Sa Hoàng, Nabokov quen sống trong nhung lụa từ nhỏ, và nếu không có cách mạng Nga, thì ông có lẽ sẽ được thừa hưởng số tài sản trị giá hàng trăm triệu đô la Mỹ. (Thực tế thì khu bất động sản ông đã được thừa kế trước khi phải rời bỏ nước Nga, hiện nay có giá khoảng 200 triệu đô la Mỹ).


Cuộc cách mạng vĩ đại diễn ra cách đây đúng 100 năm đã tước đoạt của Nabokov rất nhiều thứ, và trong các tác phẩm của ông luôn có những chi tiết nhắc đến nước Nga hiện đại với những ám ảnh khó quên, chẳng hạn theo Nabokov, trong cuốn Pnin, thì dân lưu vong Nga là:
"...một xã hội tha hương mà trong suốt một phần ba thế kỷ hưng thịnh hầu như vẫn vô danh với giới trí thức Mỹ, những kẻ mà với họ thì ý niệm về sự di cư của dân Nga được dựng lên bởi sự tinh khôn của hệ thống tuyên truyền Xô-viết thành một đám đông mơ hồ và hoàn toàn hư cấu gồm toàn những cái gọi là bọn Tờ-rốt-kít (dẫu có là ai), bọn phản động phá sản, bọn Chê-ka cải tạo hoặc cải trang, các quý bà có tước vị, các linh mục chuyên nghiệp, chủ nhà hàng, và các nhóm quân Bạch Vệ, tất cả những kẻ này chẳng có chút ý nghĩa nào về mặt văn hóa."
Không thể nói Nabokov có thiện cảm với chính quyền Xô-viết, tuy nhiên, là một nhà quý tộc được giáo dục tốt, ông nhìn nhận về cuộc cách mạng đó cũng như một cuộc đấu súng mà rốt cuộc cũng phải có kẻ thắng người thua, vấn đề là anh biết thua trong danh dự hay không. 
Có lẽ đó cũng là sự khác biệt của một người lưu vong quý tộc với những kẻ lưu vong thiếu văn hoá, không biết thua cuộc trong danh dự, và mãi mãi ôm lòng hận thù với quê hương, dù chính họ cũng chẳng bao giờ tìm được sự bình yên nơi đất khách!


29 September 2017

Pnin



Pnin được in xong ngày 26 tháng 9 năm 2017.

24 August 2017

Cách đọc trang đầu chương 2 phần 1 Lolita



Hôm nay tôi nói tiếp về cách đọc trang đầu chương 2 của Lolita. Như đã nói ở phần trước về chương 1, Nabokov viết Lolita với rất nhiều liên kết siêu văn bản nên người đọc bình thường sẽ rất khó khăn mới hiểu được trọn nghĩa câu văn. Kể cả người đọc đó có là người Mỹ chẳng nữa cũng không dễ hiểu hết ý ông ấy.



Chương 2 bắt đầu bằng câu văn đơn giản nhưng cũng dễ bị dịch ngu. Lưu ý về cách dùng từ: món xa-lát, gốc gác pha trộn, hòa chút dòng... Nếu lựa sai tổ hợp từ thì câu văn sẽ yếu đi nhiều. Lỗi dịch này dân viết lách nghiệp dư hay mắc, kiểu như viết: "Anh bộ đội bị thương hai chỗ, một ở mông, một ở đèo Khế"

Đoạn dịch "Cha và hai ông của cha tôi...., theo thứ tự tương ứng" mặc dù có thể dịch dễ đọc hơn thành chẳng hạn "cha tôi buôn rượu vang, cụ nội tôi buôn đá quý, cụ ngoại buôn tơ...", và không sai về nghĩa lại có vẻ thuần Việt hơn, nhưng thực ra dịch thế rất ngu, vì làm sai dụng ý của Nabokov về chuyện Humbert là dân Mỹ gốc châu Âu, và với y thì quá khứ là gì đó rất mịt mù, tăm tối, chẳng ấn tượng gì cho lắm, và y cũng chẳng buồn nhớ đến làm gì. Nhắc đến cha ông chẳng qua câu chuyện làm quà, chứ thực ra chả quan trọng. Quan trọng là chính những điều này tạo nên con người Humbert, và phần nào giải thích cho câu chuyện đằng sau.

Không ngẫu nhiên mà Nabokov lặp lại câu "theo thứ tự tương ứng" này hai lần. Nên nhớ Nabokov là nhà văn không bao giờ viết cái gì thừa.

Nếu dịch kiểu nôm na mách qué như tôi nói ở trên và cũng có kẻ đã làm thật rồi (còn in thành sách đem bán mới kinh) thì không còn là dịch văn chương nữa mà là dịch hướng dẫn sử dụng bao cao su hay nồi cơm điện rồi.

Đoạn văn này còn có một cụm từ lạ tai nữa là "hơi ấm tơ lông, lũ muỗi ánh vàng". Bốn chữ đầu liên quan đến văn hóa Tây và tuổi thơ Humbert, khi người ta nhớ về lúc còn nhỏ, được mẹ quấn trong chiếc khăn lông và để nằm trong phòng ấm trước lò sưởi giữa mùa đông băng giá, đó là những ấn tượng rất sâu đậm với y. Bốn chữ sau liên quan đến một bài luận của Lewis Caroll (tác giả kiệt tác "Alice ở thế giới kỳ diệu"), trong đó ông ấy nhắc đến những con muỗi chỉ sống được một ngày, và ký ức Humbert tựa như lũ muỗi ấy trong chiều vàng, chúng rất mong manh, sắp tàn lụi ngay bây giờ. Lưu ý sự liên kết của cả đoạn văn rất chặt chẽ và lô-gích.

Đây cũng là câu văn tuyệt đẹp, được đánh giá cực kỳ cao trong văn chương Anh ngữ, dịch không khéo là tè le tét lét hết.

Đoạn cuối trang thì dễ hiểu, không có gì để nói, tuy cũng có vài từ liên quan đến Kinh Thánh, nhưng thôi tôi không muốn đi quá xa.

23 August 2017

Lolita (tái bản lần 11), tháng 6 năm 2017



22 August 2017

Giới thiệu chương 1 phần 1 Lolita



Nhiều độc giả của tôi bỏ cuộc với Lolita gần như ngay từ những chương đầu tiên. Thực ra cuốn sách khó đọc thật, nhưng cũng không đến nỗi quá bí hiểm đâu. Chẳng hạn chương 1, tuy có nhiều cách hiểu tùy người, nhưng có thể đọc thế này:

Đoạn 1: Giới thiệu chung về Lolita, tình cảm của nhân vật chính, cách đọc tên nàng. 

Đoạn 2: Ám chỉ sự phức tạp trong quan hệ với Lolita. Nàng có nhiều hiện thân khác nhau trong các bối cảnh khác nhau nhưng khi về nhà và trong tay (tôi) nhân vật chính thì nàng là Lolita. Lưu ý câu đầu có liên kết với câu cuối trong đoạn văn.

Đoạn 3: Khá khó hiểu vì đó là lối viết độc thoại nội tâm, nhân vật tự hình dung ra câu hỏi ở toà án, và cách anh ta trả lời. Lưu ý cách nói vòng vèo của phạm nhân được thể hiện lại rất tinh tế.

Đoạn 4: Ám chỉ bài thơ nổi tiếng Annabel Lee của Poe, ai quan tâm có thể đọc bản dịch bài thơ này sẽ hiểu. Cuộn gai ý nói cả sự rối ren của câu chuyện và cả vòng gai Chúa đội khi chịu đóng đinh.

Đơn giản vậy thôi. Nhưng không dễ hiểu. (Cho nên mới bị cụ you-know-who dịch sai gần như 100%).



23 April 2017

Lolita (tái bản lần 10), tháng 3 năm 2017


22 January 2017

Kiệt tác “Mây, hồ, tháp” của Vladimir Nabokov

Có những tác giả mà ta nên đọc một lần trong đời, và Vladimir Nabokov (Nga) là một trong số ít tác giả như vậy.


Mây, hồ, tháp


Sinh năm 1899 tại Nga và mất năm 1977 tại Thuỵ sỹ, văn hào vĩ đại này đã sống qua 2 thế kỷ, 2 cuộc thế chiến, và tại khắp các thành phố vĩ đại nhất của châu Âu: Cố đô Saint-Peterburg của Nga, Yalta, Berlin, Paris,… Cuộc đời ông trải qua cả những tháng năm vàng son của một gia đình tư sản Nga, thậm chí khu bất động sản ông được thừa kế ở ngoại ô Saint-Peterburg hiện nay có giá trị hơn 200 triệu USD, cho đến những ngày tháng phải đi dạy tennis và đấm bốc để kiếm sống nuôi gia đình. Tuy nhiên, cuối cùng ông cũng vượt lên khỏi mọi gian khó để trở thành một trong các nhà văn vĩ đại nhất của nhân loại.
Trong kho báu di sản văn chương Vladimir Nabokov, thì Tổng tập truyện ngắn của ông là một trong các tác phẩm được đánh giá cao nhất. Bao gồm 68 truyện ngắn được viết suốt những năm thanh niên và trung niên, tại nhiều nước trên thế giới, và qua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau của sự nghiệp, Tổng tập này cho độc giả và các nhà nghiên cứu thấy được bức tranh toàn diện nhất về cuộc đời nhà văn, thấy sự hoàn thiện dần dần kỹ năng viết của ông, cách sử dụng từ rất đặc trưng cho Nabokov, các thủ pháp văn chương cũng như những phác thảo về các nhân vật sau này trong các tiểu thuyết lớn nhất của ông.
Rất nhiều truyện ngắn trong bộ sách được đánh giá như những kiệt tác vĩ đại nhất của văn chương nhân loại, chẳng hạn “Dấu hiệu và Biểu hiệu”, “Xuân Fialta”, “Mây, hồ, tháp”, “Chị em nhà Vane”… Rất nhiều nhà văn đã chịu ảnh hưởng từ Nabokov, và không ít nhà văn coi ông là người thầy của mình.
Mây, hồ, tháp

Do sự phức tạp, bút pháp cầu kỳ, vốn từ rất rộng lớn và cực kỳ khó dịch, nên văn chương Nabokov ít được biết đến tại Việt Nam. Gần một thế kỷ đã trôi qua từ khi nhà văn thành danh tại châu Âu và Mỹ, vậy mà chỉ có vài cuốn sách của ông xuất hiện trong bản dịch tiếng Việt. Dịch Nabokov là một công việc nghiêm túc, đòi hỏi sự am hiểu văn hoá Nga, Mỹ, châu Âu cũng như vốn sống nhất định và chắc chắn là kỹ năng sử dụng tiếng Việt ở mức cao nhất. Cũng không có gì lạ, là nhiều bản dịch tác phẩm Nabokov không được đánh giá cao tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. 
Việc Nhà xuất bản Văn học và Công ty Zenbook cho ra đời “Mây, hồ, tháp” - quyển 2 của bộ Tổng tập truyện ngắn Nabokov chỉ sau khi quyển 1 với cái tên “Mỹ nhân Nga” được xuất bản cách đây hơn 4 tháng đã cho thấy rằng Nabokov bắt đầu được quan tâm hơn tại Việt Nam. Nhiều độc giả đã thấy được vẻ đẹp huyền bí và sắc sảo của các tác phẩm của ông, và có lẽ sự thành công của cuốn sách “Mỹ nhân Nga” đã giúp cho nhà xuất bản mạnh dạn đầu tư cho dịch giả Thiên Lương tiếp tục chuyển ngữ những tác phẩm hết sức phức tạp và tinh tế của Vladimir Nabokov. 
Tất nhiên mỗi mảng sách có thị trường riêng của mình. Sách ngôn tình có độc giả của nó, sách tô màu có khách hàng của nó, sách dạy làm giàu, dạy ăn chay, giữ sức khoẻ cũng rất có ích cho mọi người. Nhưng văn chương đỉnh cao cũng như âm nhạc cổ điển, phim nghệ thuật, ballet, opera,… vẫn có những người hâm mộ trung thành. Và một nền văn hoá không thể thiếu vắng cả cái này, cả cái kia. Nghệ thuật hàn lâm có thể có ít khách vào những tháng năm gian khổ của dân tộc, nhưng cùng với sự thịnh vượng, thì sẽ càng ngày càng có nhiều người tìm về với nó như một niềm tin vào vẻ đẹp thánh thiện trên những bậc thang cao hơn của cảm xúc. 
Mặt khác, nước Nga vĩ đại vốn có một nền văn chương hàng đầu thế giới, tuy nhiên trước đến giờ, hầu như không có tác phẩm lớn nào của các nhà văn Nga được dịch nghiêm túc và từ ngôn ngữ gốc qua tiếng Việt. Hầu hết được dịch qua ngôn ngữ thứ ba, chẳng hạn tiếng Pháp, Anh hay Hoa, và làm mất đi rất nhiều chất văn cũng như tính Nga trong tác phẩm. Điều đó cũng dễ hiểu thôi. Trong bối cảnh ấy thì việc “Mây, hồ, tháp” cũng như “Mỹ nhân Nga” đều được dịch giả Thiên Lương dịch từ ngôn ngữ gốc mà Vladimir Nabokov dùng để sáng tác, có thể coi như một nỗ lực đáng ghi nhận với văn chương Nga và độc giả Việt. 
Theo đại diện công ty phát hành sách, thì mặc dù chưa bán được đến hàng chục vạn cuốn như các dòng văn học mực tím hay truyện ngôn tình, nhưng cả “Mỹ nhân Nga” và “Mây, hồ, tháp” đều nhận được sự quan tâm lớn của độc giả, nhiều hơn nhiều so với dự tính của họ khi làm dòng sách cao cấp này. Và đó cũng là niềm tin để những người làm sách sẽ tiếp tục cố gắng đưa thêm các tác phẩm kinh điển của Vladimir Nabokov và các nhà văn lớn khác vào Việt Nam.

Xuân Sang

Bài đã đăng trên báo Laodong.