NABOKOV

Humbert và Lolita

Phim Lolita.

Lolita

Phim Lolita

Lolita

Phim Lolita

Nabokov

Life

Lolita và Humbert

Phim Lolita

27 September 2016

Cảm thức Piter trong “Mỹ nhân Nga” của Nabokov

Vladimir Nabokov, nhà văn vĩ đại người Mỹ gốc Nga, tác giả kiệt tác Lolita, vừa quay lại với độc giả Việt Nam qua cuốn sách "Mỹ nhân Nga" do Thiên Lương chuyển ngữ và Zenbook cộng tác cùng Nhà xuất bản Văn học ấn hành.
    Được biết, cuốn sách này là phần đầu tiên trong dự án dịch thuật phức tạp và công phu nhằm đưa toàn bộ tổng tập truyện ngắn Nabokov đến với độc giả VN vào năm 2019 — nhân dịp kỷ niệm 120 năm ngày sinh nhà văn.
    Bìa sách "Mỹ nhân Nga"

    Văn hào gốc quý tộc
    Là một nhà quý tộc, ra đời năm 1899 và sống tại cố đô Saint Petersburg (Piter) của Nga đến năm 1917, được thừa kế tài sản trị giá hàng trăm triệu đô la Mỹ từ khi mới 17 tuổi, nhưng Nabokov phải sống lưu vong sau cách mạng tháng Mười. Ông đã từng phải làm đủ thứ nghề để kiếm sống ở châu Âu và Mỹ. Các truyện ngắn trong Mỹ nhân Nga được viết từ khi ông mới 22 tuổi cho đến những năm 1950, khi ông đã ngoài 50 tuổi và đã nổi tiếng với cuốn Lolita. Để đến được những dòng văn tuyệt đẹp  "Lolita, ánh sáng đời tôi, lửa dục lòng tôi, lầm lỗi của tôi, linh hồn của tôi", Nabokov đã phải tôi luyện ngòi bút mình qua hàng trăm tác phẩm cùng biết bao thăng trầm kiếp tha phương.
    Mặc dù phải rời Nga từ khi còn rất trẻ, nhưng Vladimir Nabokov có một sự nghiệp văn chương vĩ đại gắn liền với nước Mẹ. Phần lớn trong số 68 truyện ngắn ông từng viết của cả đời mình đều có bóng dáng và phảng phất hương vị Nga, thậm chí trong đó chỉ có 10 tác phẩm được ông viết bằng tiếng Anh. 
    Từ câu chuyện về con Ma cây, sau chuyến viếng thăm tác giả ở nơi đất khách quê người, để lại “…phảng phất mùi hương tinh tế tuyệt trần của bạch dương và rêu ẩm” cho đến những phận đời lưu vong phiêu bạt xứ người như nàng Olga Mỹ nhân Nga, hay “một bà cụ bảy chục tuổi đã tự sát trên mộ người chồng mới chết” ở một nghĩa trang Chính thống giáo vào một đêm Berlin đơn côi, thủy chung, với “những ánh phản chiếu ẩm ướt, những tiếng còi xe, những cơn gió lộng” trong Lá thư đến nước Nga… Tất cả đều cho thấy một tâm hồn thuần Nga trong một nhà văn dường như đã trải qua hết thảy những nỗi buồn, niềm đau, xa hoa phú quý và nhục nhã ê chề của quê hương ông, của thời đại ông, của thân phận con người.
    Và cuộc giải thoát tự thân
    Buộc phải bỏ lại sau lưng một quê hương vĩ đại tuyệt đẹp, mất đi cả gia sản lớn của gia đình quý tộc, Nabokov hẳn đã trải qua những năm tháng dằn vặt, đớn đau và nuối tiếc. Ai chưa từng sống những năm tháng cay đắng tột cùng thì làm sao viết lên được những dòng chữ máu thịt thế này: “Niềm hạnh phúc của tôi là một thách thức. Những lúc lãng du theo các con phố, theo các quảng trường, theo các đường dọc bờ kênh - và lơ đễnh cảm thấy đôi môi ẩm ướt qua đế giày thủng - tôi kiêu hãnh mang theo niềm hạnh phúc không thể lý giải của mình”.  
    Cuộc sống thật không dễ dàng, và cũng chẳng công bằng, không chỉ với một mình ai, song Nabokov đã biết cách vượt qua như nhân vật Ivanov trong truyện ngắn Dao cạo - tha thứ cho chính kẻ đã làm hại đời mình, dẫu số phận đã trao vào tay một con dao sắc lẻm và để kẻ thù nằm ngửa cổ bất lực trên chiếc ghế cắt tóc. Phải chăng, chính sự giác ngộ và lòng vị tha đó của nhà văn đã giúp ông lột xác, đưa ông bay lên những đỉnh kim cương vinh quang, và ghi danh ông muôn thuở trong di sản văn hóa nhân loại với những tác phẩm luôn được yêu mến trên toàn thế giới hàng chục năm qua. 
    Đạo diễn nổi tiếng Trần Anh Hùng và cuốn "Mỹ nhân Nga". 

    Đến sự bất tử duy nhất
    Văn chương Nga luôn được đánh giá rất cao trên thế giới, với nhiều giải Nobel và nước Nga cũng có đến ba nhà văn có tác phẩm được xếp trong danh sách 10 cuốn sách hay nhất mọi thời đại. Đó là Leo Tolstoy, Anton Chekhov và Vladimir Nabokov. Một thời chưa xa, ở nước ta, vài thế hệ đã lớn lên cùng các Ivan, Pavel, Olga, Natasha, những tảng băng óng ánh trên sông Neva hay chiều Moskva sương mù và khói tỏa. 
    Sự quay lại của Nabokov không chỉ gợi nhớ về tuổi thanh xuân trong veo của các chàng trai cô gái giờ đã vào tuổi trung niên. Không ít người trong số họ đang giữ những vị trí trọng trách của đất nước, và một lần nữa tác phẩm mới nhất được chuyển ngữ của Nabokov sẽ là ô cửa mở rộng cho các bạn trẻ còn trên ghế nhà trường thấy được vẻ đẹp bất khả tri cùng sức quyến rũ đời đời kiếp kiếp của nước Nga vĩ đại và bí ẩn. Nó hẳn cũng là cơ hội để các nhà văn, giới nghiên cứu văn chương đỉnh cao được tiếp cận các tác phẩm lớn của một tác giả vẫn được coi là nhà văn của các nhà văn, một bậc thầy văn chương tiếng Anh với vốn từ vựng khổng lồ và phong cách viết mê hoặc, say đắm, huyền ảo, vừa lãng mạn lại vừa tàn nhẫn đến bất ngờ.
    Nabokov nổi tiếng duy mỹ và cầu toàn, thêm vào đó là năng lực thiên phú: Cảm nhận được màu sắc qua con chữ, cho nên văn chương của ông luôn lấp lánh vẻ đẹp hoàn mỹ như những cánh bướm niềm đam mê thứ hai của ông sau văn chương. Nhưng vẻ đẹp siêu phàm ấy cũng là thử thách không dễ vượt qua với cả độc giả và dịch giả. Tuy nhiên, với Mỹ nhân Nga, dịch giả Thiên Lương dường như đã xóa nhòa các rào cản ngôn ngữ để đem lại cho độc giả của mình những cảm xúc vẹn nguyên từ tâm hồn Nabokov - một trong những người con vĩ đại của Piter.
    Nguồn: báo Lao động

    13 September 2016

    "Mỹ nhân Nga" - kiệt tác của Nabokov đến với người yêu văn Việt Nam

    Chấn Hưng

    Bốn năm sau khi bản dịch "Lolita" tiếng Việt ra mắt lần đầu, “Mỹ nhân Nga” - kiệt tác thứ hai của Vladimir Nabokov mới đến được với những người yêu văn chương đỉnh cao tại Việt Nam.

    Trên thực tế thì bản dịch "Lolita" đầu tiên của Dương Tường cũng kéo theo rất nhiều lời phê phán về chất lượng dịch thuật cũng như nguồn gốc của các chú thích mà dịch giả tự nhận là của mình.

    Sau đó, chính Dương Tường thừa nhận việc lấy chú thích nhưng không ghi nguồn, còn nhà sách thì bỏ công ra sửa lại những lỗi dịch nhất định, và mọi chuyện sau đó mới tạm lắng xuống. Phải nói rằng Nabokov khá vất vả khi vào Việt Nam.


    17 kiệt tác của một văn hào vĩ đại


    “Mỹ nhân Nga” bao gồm 17 truyện ngắn được Nabokov sáng tác bằng cả tiếng Nga và tiếng Anh. Cuốn sách này cũng là đầu tiên trong bộ sách 4 quyển tổng tập truyện ngắn Nabokov.

    Điều thú vị là dự án dịch thuật công phu này được thực hiện bởi dịch giả Thiên Lương, người đã chỉ ra các lỗi dịch và tình trạng đạo văn trong bản dịch "Lolita" của Dương Tường. Được biết, chính Thiên Lương sau đó cũng dịch lại toàn bộ "Lolita" từ tiếng Anh nguyên bản, và bản dịch đó đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của giới chuyên môn và những người mê sách ở Việt Nam.

    Văn chương Nabokov nổi tiếng là khó dịch, ông vẫn được coi như một nhà văn của các nhà văn. Một nữ dịch giả từng có chút tên tuổi trong làng dịch Việt Nam đã phải thú nhận là hơn 4 lần mở Nabokov định dịch mà số trang bà làm được không bao giờ quá con số 10.

    Vốn từ vựng phong phú và cách viết phức tạp, cầu kỳ, với kỹ năng sử dụng màu sắc, âm thanh, hình ảnh, nhịp điệu tuyệt vời đã làm cho văn chương Nabokov đẹp siêu phàm nhưng cũng vô cùng khó đọc và luôn là thử thách cho mọi dịch giả.

    Truyện ngắn là lĩnh vực nơi các nhà văn thử thách kỹ thuật viết súc tích của mình, cho nên chính các truyện ngắn lại rất khó dịch, và chứa đầy cạm bẫy ngôn từ.

    Nabokov từng nói rằng Chekhov là một người chạy nước rút rất giỏi, nhưng không dai sức. Do Chekhov chỉ viết truyện ngắn mà thôi. “Mỹ nhân Nga” là một ví dụ về việc một người giỏi chạy đường trường như Nabokov sẽ chạy nước rút thế nào.

    Quả thật, rất khó so sánh truyện ngắn Nabokov với Chekhov, mặc dù cả hai ông đều là người Nga, và chất Nga trong các tác phẩm của hai ông đều đặc quánh, không thể không nhận ra. Mặc dù trong các truyện được viết sau năm 1940, khi đã qua Mỹ, thì Nabokov bắt đầu thay đổi dần phong cách của mình. Có lẽ nỗi cay đắng vì phải sống lưu vong, vì mất cha khi còn quá trẻ,… đã dần dần đi vào dĩ vãng, và nhà văn thoát được khỏi các ám ảnh đau thương để viết tiếp các kiệt tác mới, mà đỉnh cao là cuốn "Lolita."

    Tuy nhiên, đến truyện ngắn “Dấu hiệu và Biểu hiệu,” một trong các truyện ngắn hay nhất của không chỉ một mình Nabokov mà còn của toàn bộ nền văn chương Anh ngữ hiện đại, thì các ám ảnh về cuộc sống lưu vong lại quay về, mặc dù khi viết nó, nhà văn đã ở tuổi 50.

    Từ một ngày trong đời cặp vợ chồng già sống lưu vong, nương nhờ vào người thân, Nabokov đã vẽ lên cả một giai đoạn lịch sử đau thương và mất mát của loài người: thế chiến thế giới thứ hai và chủ nghĩa phát-xít. Và đằng sau còn là nhiều câu chuyện khác về cõi nhân sinh, về những ám ảnh kiếp người, về định mệnh... hết thảy được viết lên bởi một nhà văn đang trên đỉnh cao sự nghiệp của mình.


    Một thách thức không chỉ về dịch thuật


    Thực ra, văn chương đỉnh cao tuy được dịch và in khá nhiều tại Việt Nam nhưng trong thời gian gần đây, không chỉ "Lolita" mà còn rất nhiều tác phẩm khác bị đem ra kiểm tra lại và cho thấy hầu hết chúng có vấn đề về chất lượng dịch.

    Trong thời gian trước, các dịch giả rất thiếu tư liệu tra cứu, không có Internet, không có các từ điển mạnh, và thậm chí là chưa từng được sống ở nước ngoài, cho nên có thể nói các bản dịch có thể dễ đọc với độc giả bình dân, nhưng đều không thể hiện nổi chất văn và giá trị của bản gốc. Có thể nói là đó chỉ là các bản lược dịch hoặc phóng tác, hay nói như nhà văn Trung Trung Đỉnh, là được thực hiện theo phong cách… “đọc không thông mà dịch rất thạo."



    Trong điều kiện khó khăn thời đó thì làm như vậy là cả một cố gắng, chúng ta không nên và không thể phủ nhận công lao những dịch giả đi trước. Tuy nhiên, đến lúc nào đó thì chúng ta cần dịch lại các kiệt tác cũ, và cách dịch tốt nhất vẫn phải là tín và đạt, không thể dịch sai mà hay được, nói thế chỉ là một sự ngụy biện đê tiện mà thôi.

    Chưa có nhiều tác phẩm của Nabokov đến được với độc giả Việt Nam có lẽ cũng vì cách viết quá bác học của ông khiến cho việc dịch phóng tác hoàn toàn bất lực. Vẻ đẹp tác phẩm Nabokov không chỉ nằm trong cốt truyện mà cả kỹ thuật viết. Nếu dịch giả dịch sai thì cuốn sách coi như vứt đi, không còn ý nghĩa gì cả.

    Chính vì vậy, “Mỹ nhân Nga” là một cuốn sách thách thức không chỉ với dịch giả và nhà xuất bản, mà còn với cả độc giả. Liệu người đọc có thói quen đọc kỹ, đọc chậm, đọc đi đọc lại để thấy vẻ đẹp của văn chương đích thực, hay đã quen lối đọc báo, đọc facebook và các bản dịch dễ dãi, “đọc rất thông dù dịch không thạo” đang tràn ngập trên thị trường?

    Và liệu dịch giả Thiên Lương có vượt qua được chính mình để hoàn thành toàn bộ dự án lớn kéo dài nhiều năm này hay không? Với hơn một ngàn trang tiếng Anh, bộ sách này dày ngang với các cuốn sách lớn như Anna Karenhina, Ulysses... và cần rất nhiều thời gian của dịch giả và các biên tập viên. Đó cũng là một câu hỏi, vì rất nhiều dự án dịch thuật ở Việt Nam đã chấm dứt ngay sau tập đầu tiên.

    Dẫu sao thì chúng ta vẫn nên hy vọng vào một tương lai tốt hơn cho nền dịch thuật đang chịu nhiều tai tiếng. Và rất mong các dịch giả sẽ chung sức dịch các tác giả lớn chưa được giới thiệu nhiều ở Việt Nam, như Vladimir Nabokov, James Joyce, Marcel Proust.

    Nguồn: 

    http://www.vietnamplus.vn/my-nhan-nga-kiet-tac-cua-nabokov-den-voi-nguoi-yeu-van-viet-nam/405295.vnp

    10 August 2016

    Mỹ Nhân Nga


    Tổng tập truyện ngắn Vladimir Nabokov
    Quyển I
    Phát hành dự kiến: 15/8/2016

    20 March 2016

    Nghề Dịch Có Nhục Có Vinh

    Trả lời phỏng vấn báo Văn Nghệ Công An số 281 ra ngày 17/03/2016



    Chào dịch giả Thiên Lương, ba năm trước anh được biết đến vì sự kiện phê bình bản dịch Lolita và việc đạo chú thích của dịch giả Dương Tường và sau đó anh đã bỏ gần hai năm ra dịch lại toàn bộ tác phẩm vĩ đại này của Nabokov, không biết hiện nay anh còn tham gia vào công việc dịch nữa không?

    Tôi vẫn dịch các tác phẩm của Nabokov đấy chứ, đã dịch được vài chục truyện ngắn của ông ấy, và khá nhiều trong số chúng đã được đăng lên các tờ báo lớn của VN. Hầu hết các truyện ngắn tiếng Anh hay nhất của ông ấy, như “Dấu hiệu và Biểu hiệu”, “Chị em nhà Vane”,… đã được tôi dịch và cho đăng báo. Nabokov là một trong số ít các nhà văn bậc thầy của nhân loại, thật đáng tiếc là tác phẩm của ông hầu như chưa được dịch ra tiếng Việt.

    Nhận xét chung của anh về tình hình văn học dịch ở VN trong 3 năm qua?

    Sau đợt phê bình Lolita thì tôi cho là giới dịch giả bắt đầu phân hóa khá rõ rệt, thực ra sự đoàn kết giả tạo trước đây theo kiểu bảo vệ nồi cơm của nhau là rất có hại cho môi trường dịch thuật. Tuy nhiên, tôi cũng không ủng hộ việc những người viết lại tấn công lẫn nhau. Chúng ta nên tôn trọng sự thật và chỉ sự thật mà thôi, ai dịch sai quá nhiều thì vẫn nên bị lên án, không vì họ lớn tuổi hay họ là bạn bè mà ta phải cố sống cố chết bênh vực. Kiểu tư duy làng xã bao che lẫn nhau, ai ra sách thì cả đám kéo đến khen trả lễ như ăn cưới, chỉ kéo lùi mọi thứ, không riêng lĩnh vực dịch. Còn về chất lượng sách dịch thì nói chung cuốn nào mà được để ý đến thì chắc chắn là có vô số lỗi. Lâu lâu lại rộ lên các thảm họa dịch thuật mới chẳng qua cũng chỉ do chúng được (hay là bị) công ty làm sách bỏ tiền ra PR quá mạnh, nên chúng bị (hay được) mọi người chú ý đến mà thôi.

    Anh nghĩ rằng độc giả VN may mắn hay không khi các tác phẩm văn chương có giá trị của nước ngoài được chuyển ngữ rất nhiều trong thời gian qua dù rằng chất lượng các bản dịch lại là vấn đề...?

    Tôi nghĩ không may mắn mà cũng chẳng xui xẻo gì, nói tóm lại là không ảnh hưởng gì nhiều đến xã hội, vì văn chương bây giờ có được mấy ai đọc đâu? Dịch sai hay dịch đúng thì cũng vậy. Một bản dịch thảm họa chỉ gây hại khi nó bán được vài chục ngàn bản trở lên, chứ còn bán một vài ngàn bản, và đa phần trong đó cũng không được ai đọc, thì nói chúng tốt hay xấu đều sai cả. Nói chung các bản dịch văn chương ở VN, theo tôi, hầu hết là vô hại.

    Theo anh thì để các bản dịch sai xuất hiện tràn lan trên kệ sách mỗi nhà như vừa qua, lỗi tại ai? Dịch giả? Biên tập? Nhà sách? Hay chính là độc giả cũng dễ dãi quá?

    Thực ra tôi không đồng ý với quan điểm cho rằng hiện nay có quá nhiều bản dịch sai, vì khi nói thế thì ta mặc nhiên cho rằng ngày xưa có nhiều bản dịch đúng. Tuy nhiên, các bản dịch thời xưa còn tệ hơn bây giờ nhiều. Cũng dễ hiểu thôi, làm sao ta có thể dịch đúng được với các từ điển giấy rất kém cỏi và bất tiện, thiếu hoàn toàn sự hỗ trợ của internet, của bạn bè nước ngoài, và thiếu cả trải nghiệm sống ở nước ngoài? Chẳng qua thời xưa rất ít người có khả năng đọc ngoại ngữ, lại càng ít người có được bản gốc trong tay, cho nên các dịch giả thời xưa muốn dịch sao cũng được, miễn xuôi tai. Nói như một nhà văn VN, là nhiều dịch giả “đọc không thông mà dịch rất thạo”. Tuy nhiên, xuôi tai và dễ đọc hoàn toàn không phải là các tiêu chí để đánh giá chất lượng bản dịch, đặc biệt là các kiệt tác. Tôi cho rằng tình hình dịch thuật hiện nay tuy có xấu nhưng cũng vẫn tốt hơn xưa. Nếu có xấu hơn thì là do độc giả giỏi hơn thôi. Ngày nay dịch giả chịu áp lực rất lớn, gần như họ phải làm việc trong một cái lồng kính trong suốt dưới ánh đèn cao áp vậy.

    Anh nghĩ để thay đổi được hiện trạng trên, cần có những động thái gì từ xuất bản, từ biên tập và từ chính độc giả?

    Dịch giả đóng vai trò quyết định và tối hậu trong chất lượng bản dịch. Chẳng ai biên tập được một bản dịch sai từ đầu đến cuối. Nhà sách thì thực ra phải lo lợi nhuận, nhập giấy vào, bán giấy ra. Đa số độc giả thì có chịu đọc và có đọc được bản gốc đâu mà biết bản dịch tốt hay tệ? Nói chung muốn có một nền dịch thuật tốt hơn thì phải có các dịch giả giỏi hơn, mà muốn có dịch giả giỏi hơn thì phải có tiền nhiều hơn. Người giỏi bao giờ cũng đổ vào các chỗ có thu nhập cao. VN không thiếu người giỏi, thừa sức dịch tốt cả Nabokov, Proust, Kant, Hegel hay James Joyce, nhưng vấn đề là hầu như chẳng ai giỏi mà lại đi làm khổ sai 2 năm để lấy 1000 đô la cả. Đó là vấn đề của làng dịch VN hiện nay!

    Không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận lời chê. Các dịch giả nên có tâm thế như thế nào thì hợp lẽ khi tiếp nhận các luồng ý kiến khác nhau từ độc giả của mình và từ chính các đồng nghiệp.

    Tôi nghĩ dịch cũng là một nghề như bao nghề khác, có nhục có vinh, tất nhiên cũng có những tác phẩm rất khó dịch, có những tác giả cực kỳ khó dịch, và cần sự tôn trọng nhất định với dịch giả nào dịch thành công những kiệt tác ấy, những văn hào vĩ đại ấy, nhưng tuyệt đại đa số bản dịch khác chỉ là các sản phẩm hết sức bình thường thôi. Tôi nghĩ các dịch giả nên có tâm thế chấp nhận phê bình, dẫu sao chăng nữa, nếu ai phê bình được cuốn sách nào đó thì chí ít họ cũng đã đọc nó ít nhiều, vậy là quý lắm rồi. Chứ còn vô số người viết ngoài kia chỉ mong được đọc, và thậm chí phải bỏ cả tiền ra tự in sách đem tặng, mà không ai thèm đọc thì sao?

    Dịch giả VN hay phản ứng thái quá với sự phê bình, chẳng qua do họ hơi ảo tưởng về mình. Nhưng, vài tỷ người mới có một Nabokov, một Tolstoi, hay một James Joyce, chứ đọc và dịch sách họ thì thiếu gì người làm được? Đương nhiên dịch được và dịch đạt, dịch hay, dịch nhã là những khái niệm khác nhau một trời một vực, nhưng đó lại là câu chuyện khác! Và tôi nghĩ trong tình hình văn hóa bè cánh làng xã hiện nay thì ở VN chúng ta chỉ có “dịch quen” và “dịch lạ” mà thôi.

    1 February 2016

    Cơn Giông

    Vladimir Nabokov
    Thiên Lương dịch

    Tác phẩm đã đăng trong Tạp Chí Sông Hương số Tết Bính Thân



    Nơi góc phố, dưới vòm hoa đoan, một mùi hương ngào ngạt quấn lấy tôi. Những tảng sương mù đồ sộ dâng lên trên trời đêm, và khi khoảnh sao cuối cùng bị nuốt chửng, thì ngọn gió mù loà, che mặt bằng tay áo, lùa thấp theo phố vắng. Trong bóng tối nhập nhoạng, trên cánh cửa sắt của tiệm cắt tóc, một chiếc khiên treo – chiếc thau vàng – chao như quả lắc.

    Về đến nhà, tôi bắt gặp ngọn gió đã đợi trong phòng: nó sập mạnh khung cửa sổ – và vội vã thốc ngược lại khi tôi khép cánh cửa sau lưng mình. Dưới cửa sổ phòng tôi có cái sân trong sâu hun hút, nơi đó, ban ngày, những chiếc sơ mi, bị đóng đinh trên các dây phơi rực nắng, toả sáng xuyên qua các bụi tử đinh hương, và từ dưới ấy thỉnh thoảng lại vọng lên những tiếng sủa sầu muộn – giọng mấy người thu mua đồng nát ve chai; –  ứ-ứ, cây vỹ cầm tàn tật nức nở; và, có lần, một phụ nữ tóc vàng béo ú tới, đứng ngay giữa sân, hát hay đến nỗi các cô hầu, cúi cần cổ trần, nhoài cả người ra ngoài mọi cửa sổ, sau đó, khi chị ta ngưng hát, mọi thứ trở nên yên lặng khác thường; chỉ nghe tiếng bà chủ nhà tôi, một mụ goá lôi thôi, đang thổn thức hỉ mũi trong hành lang.

    Giờ thì dưới ấy, màn sương u ám ngột ngạt đang trương lên, –  nhưng kìa, ngọn gió mù loà, vừa bơ vơ luồn xuống đáy sâu, lại bắt đầu rướn lên trời, – và đột nhiên – nó sáng mắt ra, lao vút lên và, trong những hố sâu màu hổ phách bên bức tường đen ngòm đối diện, những bóng tay và bóng tóc tất tả tới lui, bắt lại các khung cửa bay, sầm sập đóng chặt cửa sổ. Các cửa sổ vụt tắt. Và lập tức, trong màn đêm tím thẫm, một tràng âm thanh trầm đục, tiếng sấm xa, bắt đầu vỡ ra, lan rộng. Rồi mọi thứ lại lặng đi, như lúc chị hành khất ngừng hát, siết chặt tay lên bộ ngực đầy.

    Tôi thiếp đi trong sự yên ả ấy, lử lả vì vui, một niềm vui mà tôi chẳng thể viết thành lời, – và giấc mơ tôi chan chứa bóng hình em.

    Tôi bừng tỉnh vì đêm vỡ vụn. Ánh lấp lánh nhợt nhạt, cuồng dại bay ngang bầu trời, tựa chớp hồi quang của chiếc nan hoa vĩ đại. Hết tiếng sét này đến tiếng sét khác xé toạc bầu trời. Mưa rơi rào rạt nơi nơi.

    Tôi say những rung động xanh nhờ ấy, cái lạnh nhẹ buốt ấy. Tôi bước lên bậu cửa sổ ướt đẫm, hít không khí siêu phàm, nó làm tim tôi ngân lên, như kính.

    Càng lúc càng gần hơn, càng lúc càng kỳ vĩ hơn, cỗ mã xa của nhà tiên tri rền vang theo những áng mây. Ánh sáng của sự điên rồ, của những ảo cảnh nhức mắt, rọi tỏ cõi đêm, những mái dốc kim loại, những bụi tử đinh hương cuống cuồng chạy trốn. Thần sấm, một ông khổng lồ tóc bạc, với bộ râu bão táp bị gió vắt ngược qua vai, mặc bộ lễ phục phấp phới chói ngời, đứng, ngả người về phía sau, trong cỗ mã xa ngùn ngụt cháy của mình, gồng tay ghìm lũ chiến mã khổng lồ, lông đen huyền, bờm rực lửa tím. Chúng lao vùn vụt, chúng phì bọt lóng lánh đì đùng, cỗ mã xa nghiêng ngả, và nhà tiên tri bối rối ghì dây cương mà chẳng ăn thua. Gương mặt ông bị méo đi bởi gió và sự căng thẳng; cơn lốc, thổi tung các nếp lễ phục, lột trần đầu gối vạm vỡ, lũ chiến mã, tung bờm rực lửa, bay mỗi lúc mỗi hăng – thấp dần, thấp dần theo những áng mây. Và đây, với những tiếng sấm ầm ì, chúng tung vó qua một nóc nhà sáng bóng, cỗ mã xa liệng đi, Elijah loạng choạng, và lũ chiến mã, điên lên bởi đụng phải chất kim loại phàm trần, nhào ngược lên trời. Nhà tiên tri bị quăng ra ngoài. Một bánh xe văng đi. Từ cửa sổ nhà mình, tôi thấy cái vành khổng lồ rực lửa của nó lăn theo mái nhà, chệnh choạng tại bờ mái, và nhảy vào bóng tối lờ mờ. Còn lũ chiến mã, kéo lê theo chúng cỗ mã xa bị lật nhào, nảy tưng tưng, đã bay nhanh theo những áng mây cao ngất; tiếng rầm rầm tắt dần, và ngọn lửa giông lụi tàn trong những vực thẳm tím than.

    Thần sấm, vừa rơi lên mái, nặng nề đứng dậy, đôi xăng đan của ông trượt đi; ông đạp chân vỡ cửa tò vò mái nhà, càu nhàu, khoát tay túm lấy ống khói. Chầm chậm quay gương mặt tối sầm lại, ông đưa mắt tìm kiếm thứ gì đó – hẳn là chiếc bánh xe vừa bung khỏi cái trục vàng. Sau đó ông ngước lên, các ngón tay túm chặt bộ râu rối, cáu kỉnh lắc đầu – chắc đây không phải lần đầu chuyện ấy xảy ra – và, hơi tập tễnh, bắt đầu thận trọng leo xuống dưới.

    Rời cửa sổ, hấp tấp và hồi hộp, tôi khoác áo choàng và chạy xuống chiếc thang dốc dẫn thẳng đến sân trong. Cơn giông đã qua, nhưng trời còn lất phất mưa. Phương đông ửng màu xanh tái tuyệt đẹp.

    Cái sân trong, nhìn từ trên cao thì như thể chìm trong bóng tối đặc quánh, thực ra ngập màn sương mỏng đang tan. Giữa sân, trên bãi cỏ thẫm màu vì ẩm ướt, một ông già gày guộc, lưng còng vai xo, mặc chiếc áo thụng đẫm nước mưa, đứng lẩm bẩm nói gì đó và nhìn quanh. Trông thấy tôi, ông giận dữ nháy mắt:

    –  Là ngươi hả, Elisha?

    Tôi cúi đầu. Nhà tiên tri chặc lưỡi, xoa xoa lòng bàn tay lên chỗ hói nâu nâu.

    – Rớt đâu cái bánh. Tìm cho ta đi.

    Mưa đã tạnh. Trên nóc nhà, những đám mây đồ sộ bừng bừng cháy. Xung quanh, trong không trung xanh mờ ngái ngủ, các bụi cây, hàng rào, cái cũi chó lấp lánh lững lờ trôi. Chúng tôi mò mẫm tìm rất lâu khắp các xó xỉnh.  Ông già luôn miệng càu nhàu, nâng gấu áo nặng trĩu, lội đôi xăng đan mòn vẹt lõm bõm qua các vũng nước mưa, và trên đầu cái mũi to, xương xẩu của ông treo một giọt nước lấp lánh. Gạt nhánh tử đinh hương thấp lè tè, tôi chợt để ý thấy, trên đống rác, giữa kính vỡ, một bánh sắt mỏng, chắc là từ cái xe nôi trẻ con nào đó, ông già thở phào nồng ấm ngay trên tai tôi và hấp tấp, thậm chí hơi thô bạo đẩy tôi qua bên, chộp cái vành han gỉ ấy nhấc lên. Ông nháy mắt vui vẻ bảo tôi:

    –  Thì ra là lăn vào đây…

    Rồi ông chằm chằm nhìn tôi, nhíu cặp mày bạc, – và như thể chợt nhớ ra điều gì đó, oai nghiêm nói:

    –  Quay mặt đi nào, Elisha.

    Tôi vâng lời. Thậm chí còn nheo mắt lại. Đứng như vậy được chừng một phút, – và không giữ được lâu hơn.

    Sân vắng tanh. Chỉ có con chó già lông xù với cái mõm bạc màu thò đầu ra khỏi cũi và, giống như người, ngước đôi mắt nâu sẫm đầy vẻ sợ hãi nhìn lên. Tôi ngẩng đầu. Elijah đã leo lên mái nhà, chiếc vành sắt sáng lờ mờ sau lưng ông. Trên những ống khói đen, một ráng mây sừng sững hiện lên như rặng núi loăn xoăn vàng cam, và sau nó là ráng thứ hai, thứ ba. Tôi và con chó im bặt ấy đăm đắm dõi theo nhà tiên tri, vừa leo đến đỉnh nóc nhà, bình tĩnh và thong thả đặt chân lên mây và tiếp tục trèo lên trên, nặng nề bước theo ngọn lửa dịu êm.

    Nắng rọi vào bánh xe của ông, nó lập tức biến thành chiếc vòng vàng khổng lồ, – và chính Elijah dường như lúc này cũng mặc bộ lễ phục lửa, hoà mình với những ráng mây thiên đường ấy, bước mỗi lúc mỗi cao hơn, cao hơn nữa, cho đến khi biến vào lũng trời rực cháy.

    Chỉ đến lúc đó thì con chó già mới cất tiếng sủa khàn khàn ban mai, – và những gợn sóng lăn tăn trên bề mặt sáng chói của vũng nước mưa; làn gió hiu hiu lay động các cây phong lữ đỏ thắm trên ban công, đôi ba cửa sổ tỉnh giấc nồng, – và tôi chạy ra ngoài phố, chân đi đôi dép ngủ kẻ ô ướt sũng, người mặc chiếc áo choàng phai màu, bắt kịp chiếc tàu điện ngái ngủ đầu tiên, vừa chạy vừa khép vạt áo, và vừa cười hoài, vừa hình dung, chỉ lát nữa thôi là sẽ tới nhà em và kể em nghe về vụ tai nạn trời đêm ấy, về nhà tiên tri già cáu kỉnh ấy, vừa rơi xuống khoảng sân nhỏ của tôi.


    26 November 2015

    Mối Tình Đầu


    Vladimir Nabokov 
    Thiên Lương dịch

    Tác phẩm đã đăng trên Tạp Chí Nhà Văn & Tác Phẩm, số 13. 




    I

    Vào những năm đầu thế kỷ này, một hãng du lịch trên đại lộ Nevski trưng bày một mô hình dài-ba-bộ của toa giường ngủ liên vận quốc tế màu nâu gỗ sồi. Với vẻ giống thật đầy tinh xảo, nó xịn hơn hẳn chiếc hộp thiếc sơn màu còn gọi là đoàn tàu chạy dây cót của tôi. Tiếc thay, nó không để bán. Ta có thể nhìn thấy vải nệm xanh lam bên trong, da bọc rập nổi của những tấm vách ngăn, các ô trám bóng loáng của chúng, những chiếc gương dát, những chiếc đèn đọc sách hình hoa tulip, cùng nhiều chi tiết phát rồ khác. Các cửa sổ rộng xen kẽ với những cái hẹp hơn, đơn chiếc hoặc thành cặp, và vài cái trong số chúng có gắn kính mờ. Trong mấy cu-pê, giường được dọn sẵn.

    Đoàn tàu tốc hành Phương Bắc vĩ đại và đẹp mê hồn hồi ấy (nó chẳng bao giờ còn giống vậy nữa sau Đệ Nhất Thế Chiến), bao gồm toàn các toa liên vận quốc tế như thế và chạy hai lần mỗi tuần, nối St. Petersburg với Paris. Có lẽ tôi đã nói: trực tiếp với Paris, nếu như hành khách không bị bắt phải đổi từ đoàn tàu này qua đoàn tàu khác nhìn bề ngoài giống hệt tại biên giới Nga-Đức (Verzhbolovo-Eydtkuhnen), nơi khổ đường ray sáu-mươi-in-xơ-rưỡi lười biếng và rộng rãi của Nga được thay thế bằng chuẩn năm-mươi-sáu-in-xơ-rưỡi của châu Âu và than đá nối nghiệp những khúc gỗ bạch dương.

    Trong tận sâu thẳm tâm trí, tôi nghĩ mình có thể lần ra được ít nhất năm chuyến du hành như vậy tới Paris, với Riviera hoặc Biarritz là đích đến cuối cùng. Vào năm 1909, cái năm mà giờ đây tôi lựa riêng ra, hai đứa em gái tôi bị bỏ lại nhà cùng những người bảo mẫu và các bà dì. Đeo găng tay và đội mũ du lịch, cha tôi ngồi đọc sách trong cu-pê mà ông chia sẻ với gia sư của chúng tôi. Em trai tôi và tôi bị tách khỏi họ bằng buồng vệ sinh. Mẹ tôi và người hầu gái của bà chiếm một cu-pê sát ngay cu-pê chúng tôi. Người thừa trong đoàn chúng tôi, đầy tớ của cha tôi, Osip (kẻ mà, một thập kỷ sau, những người Bôn-sê-vích ra vẻ mô phạm sẽ bắn, vì hắn chiếm đoạt những chiếc xe đạp của chúng tôi thay vì giao nộp chúng cho quốc gia), ở cùng một người lạ.

    Vào tháng Tư năm ấy, Peary đến Bắc Cực. Vào tháng Năm, Chaliapin hát ở Paris. Vào tháng Sáu, do lo ngại bởi những lời đồn đại về các khinh khí cầu zeppelin mới và tốt hơn, Bộ Quốc Phòng Liên Bang Hoa Kỳ đã thông báo cho các phóng viên về kế hoạch xây dựng hạm đội trên không. Vào tháng Bảy, Blériot bay từ Calais đến Dover (với một vòng lượn nhỏ cộng thêm khi ông mất phương hướng). Giờ đã cuối tháng Tám. Những cây linh sam và những đầm lầy miền tây bắc nước Nga lướt ngang qua, và, vào hôm sau, nhường lối lại cho cây thạch nam và những vùng đất Đức héo cằn.

    Trên chiếc bàn gấp, mẹ và tôi chơi trò đánh bài có tên là durachki. Mặc dù đang lúc thanh thiên bạch nhật, vậy mà các lá bài, chiếc ly, và trên mặt phẳng khác, những ổ khoá của một chiếc va li vẫn được phản chiếu lại trong cửa sổ. Xuyên qua rừng rậm và đồng hoang, trong những hẻm núi đột ngột, và lưng chừng những dã thự vùn vụt lướt ngang, các con bạc vô thể ấy cứ đều đều đặt những món cược lấp lánh đều đều.

    Ne budet-li, tï ved’ ustal?” (“Thôi nhé, con mệt chưa?”) mẹ hỏi, sau đó lại suy nghĩ miên man lúc mẹ chầm chậm xào bài. Cửa cu-pê đang mở và tôi có thể nhìn thấy cửa sổ hành lang, nơi những sợi dây – sáu sợi dây đen mảnh – đang cố hết sức đi xiên lên, cố ngoi lên trời, bất chấp các đòn đánh chớp nhoáng giáng lên chúng bởi hết cột điện báo này đến cột điện báo khác; nhưng đúng lúc cả sáu sợi, trong một cú nhào phấn khích đầy vẻ đắc thắng đáng thương, sắp vươn lên tới trên cùng cửa sổ, thì một đòn đánh đặc biệt độc ác lại lôi chúng xuống, đến tận cái mức thấp nhất mà chúng từng nằm, và chúng lại phải bắt đầu mọi thứ lần nữa.

    Khi, trong các chuyến du hành như thế này, đoàn tàu đã đổi nhịp chạy qua nước kiệu oai nghiêm với gần như toàn mặt tiền nhà và biển hiệu cửa hàng sượt ngang, lúc chúng tôi chạy xuyên qua một thành phố lớn nào đó của nước Đức, tôi thường cảm thấy một trạng thái phấn khích nhị nguyên, mà các nhà ga cuối không thể mang lại. Tôi nhìn thành phố với những chiếc xe điện như món đồ chơi, những cây đoan, cùng những bức tường gạch nhập vào buồng, chén tạc chén thù với các tấm gương, và rót ngập cửa sổ bên phía hành lang. Giao tiếp thân tình này giữa đoàn tàu với thành phố là một phần rung cảm. Phần khác là việc đặt mình vào vị trí một khách qua đường nào đó, kẻ, theo tôi hình dung, đang xao lòng như chính tôi sẽ bị xao lòng khi ngắm các toa tàu dài, lãng mạn, nâu vàng, cùng những tấm màn xếp nối liên hành lang đen như cánh dơi và các con chữ kim loại sáng ánh đồng trong nắng tà dương, thong thả vượt qua chiếc cầu sắt cắt ngang một đại lộ thông thường và sau đó uốn mình, cùng tất cả các cửa sổ thình lình rực cháy, lượn quanh khối nhà cuối cùng.

    Có những nhược điểm của các giao hoà thị giác ấy. Toa ăn cửa-sổ-rộng, một khung cảnh gồm những chai nước khoáng nguyên sơ, những chiếc khăn ăn được gấp thành hình mũ tế, và những thanh sô-cô-la giả (vỏ của chúng – Cailler, Kohler, vân vân – bọc chỉ toàn gỗ mà thôi) sẽ được cảm nhận ngay lúc đầu như một thiên đường yên ả ở phía bên kia sự phối hợp của các hành lang xanh lam loạng choạng; nhưng khi bữa ăn sắp đến món tai hại sau cùng, ta lại chợt thấy toa tàu đương vừa liều lĩnh dấn mình, vừa rung lắc những người phục vụ và mọi thứ, vào một cảnh quan, còn trong lúc cảnh quan ấy tự nó chạy xuyên qua một hệ chuyển động phức tạp, thì ánh trăng ban ngày vẫn cứ bướng bỉnh sóng hàng cùng đĩa thức ăn của ta, thảo nguyên xa xa xòe rộng ra như chiếc quạt, những cái cây gần gần lướt trên những chiếc đu vô hình về phía tuyến đường, một làn ray song song bỗng tự kết liễu mình bằng chỗ hợp lưu, một bờ cỏ nhấp nhánh cứ dâng lên, dâng lên, dâng lên, cho đến khi cậu bé chứng kiến các tốc độ hỗn tạp ấy bị làm cho nôn mửa ra phần omelette aux confitures de fraises của mình.

    Tuy nhiên, ban đêm là lúc Compagnie Internationale des Wagons-Lits et des Grands Express Européens sống xứng đáng với ma lực tên nó. Từ trên giường mình, dưới băng em trai (Nó có ngủ không? Nói chung nó có trên đó không?), trong căn buồng tranh tối tranh sáng, tôi ngắm nhìn sự vật, và các phần thuộc sự vật, và bóng tối, và các mảng tối thận trọng lượn quanh rồi biến vào hư không. Đồ gỗ khe khẽ kêu kẽo kẹt, ken két. Gần cánh cửa dẫn đến toilet, một bộ quần áo lờ mờ trên mắc và, trên cao hơn, tua rua của chiếc đèn ngủ vỏ kép màu lam đang đu đưa nhịp nhàng. Thật khó tương liên những tiếp cận lưỡng lự ấy, vẻ lén lút chùm mũ ấy, với sự gấp gáp bất cẩn của bóng đêm bên ngoài, mà tôi biết đang gấp gấp lao qua, vạch các vệt sáng, không thể giải đoán.

    Tôi cố ép mình ngủ bằng hành động đơn giản là đồng nhất mình với người lái đầu máy. Một cảm giác hạnh phúc lơ mơ lan toả khắp các tĩnh mạch tôi ngay khi tôi đã sắp đặt mọi thứ đâu ra đấy – các hành khách vô ưu trong buồng họ đang tận hưởng chuyến đi mà tôi mang đến cho họ, hút thuốc, trao đổi những nụ cười ranh mãnh, gà gật, ngủ lơ mơ; các nhân viên phục vụ và đầu bếp và bảo vệ tàu (những người mà tôi phải đặt đâu đó) đang đánh chén trong toa ăn; còn chính tôi, đeo kính lái và lem luốc, chăm chú nhìn ra ngoài buồng máy về phía đường ray vuốt nhọn, về phía điểm ngọc đỏ hoặc ngọc lục bảo ở quãng đường đen kịt đằng xa. Và sau đó, trong giấc ngủ, tôi lại thấy thứ gì đấy khác hẳn – hòn bi ve lăn tròn dưới cây đại dương cầm hoặc chiếc đầu máy đồ chơi nằm nghiêng với những cái bánh vẫn chuyển động một cách can trường.

    Sự thay đổi tốc độ tàu đôi khi ngắt mạch ngủ của tôi. Những ánh đèn chậm rãi oai vệ diễu qua; mỗi cái, lúc đi ngang, lại điều nghiên cũng vẫn khe hở ấy, sau đó, một chiếc com-pa sáng chói lại dò xét bóng tối. Chẳng mấy chốc, đoàn tàu dừng bánh cùng tiếng thở Westinghouse kéo dài. Có thứ gì đó (cặp kính của em trai tôi, như xác định vào hôm sau) rơi từ trên cao xuống. Thật vô cùng hứng thú khi mò xuống cuối giường, cùng phần chăn cuốn theo, để thận trọng tháo then cài màn cửa sổ, dẫu nó chỉ có thể trượt lên được nửa đường, do bị cản lại, trên thực tế, bởi cạnh giường trên.

    Như các mặt trăng quanh sao Mộc, lũ bướm đêm nhợt nhạt quay mòng mòng quanh ngọn đèn cô đơn. Một tờ báo tả tơi lật quật trên chiếc ghế băng. Tại nơi nào đấy trên tàu, có thể nghe thấy những tiếng nói bị nghẹt lại, tiếng ho khoan khoái của ai đó. Chẳng có gì đặc biệt thú vị trên phần sân ga trước mặt tôi, vậy mà tôi vẫn không thể dứt mình ra khỏi nó cho đến khi nó tự nguyện rời đi.

    Sáng hôm sau, những cánh đồng ẩm ướt với những cây liễu dị hình mọc dọc theo một con mương tỏa nan hoa hay một hàng dương xa xa, bị cắt ngang bởi dải chân trời mù sương trắng sữa, cho ta biết rằng đoàn tàu đang guồng bánh qua nước Bỉ. Nó đến Paris lúc bốn giờ chiều; và thậm chí nếu chỉ lưu lại qua đêm, tôi vẫn luôn có thời gian để mua thứ gì đó – chẳng hạn như một Tour Eiffel nhỏ bằng đồng thau, phủ ngoài khá đại khái bằng sơn bạc – trước khi chúng tôi lên tàu tốc hành Phương Nam lúc mười hai giờ trưa hôm sau, chuyến tàu này, trên đường đi Madrid, đưa chúng tôi, vào khoảng mười giờ đêm, đến ga La Négresse của Biarritz, cách biên giới Tây-Ban-Nha vài dặm.

    II

    Hồi ấy, Biarritz vẫn giữ được bản sắc riêng. Những lùm mâm xôi rậm rạp lầm bụi và các terrains à vendre cỏ mọc um tùm viền quanh con lộ dẫn đến biệt thự chúng tôi. Carlton vẫn còn đang được xây. Chừng ba mươi sáu năm phải trôi qua trước khi Thiếu Tướng Samuel McCroskey chiếm căn suite hạng hoàng gia của Hôtel du Palais, cái khách sạn nằm ở khoảng đất thuộc một cung điện xưa, nơi mà, vào những năm sáu mươi, người ta đồn rằng Daniel Home, ông đồng lanh lợi đến khó tin ấy, đã bị bắt quả tang đang vuốt ve bằng bàn chân trần của mình (để mô phỏng một bàn tay ma) gương mặt tử tế, nhẹ dạ cả tin của Nữ hoàng Eugénie. Trên lối đi dạo gần Sòng Bạc, một bà bán hoa luống tuổi, với cặp lông mày than chì và nụ cười tô lục chuốt hồng, nhanh nhẹn cài đế hoa cẩm chướng mũm mĩm vào khuyết áo một người tản bộ ngang qua, hàm trái ông ta làm nổi bật nếp gấp vương giả của nó lúc ông liếc xéo xuống cuộc gài hoa thẹn thùng ấy.

    Dọc tuyến sau plage, đủ loại ghế bãi biển nâng đỡ bố mẹ lũ trẻ đội mũ rơm đang chơi đùa trên cát đằng trước. Có thể thấy tôi đang quỳ trên đầu gối mình và cố gắng làm cho chiếc lược nhặt được bốc cháy bằng một cái kính lúp. Những người đàn ông diện những chiếc quần soọc trắng mà với con mắt ngày nay chắc nhìn như thể chúng bị co rút lại một cách tức cười lúc giặt. Các quý bà mang, vào mùa đặc biệt ấy, áo choàng mỏng với ve áo mặt-lụa, mũ có chỏm lớn và vành rộng, mạng trắng thêu dày, áo cánh có diềm xếp nếp đằng trước, diềm xếp cổ tay, diềm xếp trên dù. Làn gió nhẹ làm môi ta mặn chát. Với tốc độ kinh hoàng, một con bướm lạc màu vàng cam bay vụt qua plage rung rinh.

    Âm thanh và chuyển động đến thêm nữa từ những người bán rong cacahuètes, hoa violet quện đường, kem quả hồ trăn màu lục thiên đường, kẹo cao su, những mẩu phồng to của một thứ khô, sạn, tựa như bánh quế, đến từ một cái thùng đỏ. Với sự rõ nét mà không có chồng lấn nào sau này làm lu mờ nổi, tôi nhìn thấy người bán bánh quế ấy dậm bước tiến qua cát bột sâu, cùng cái thùng tô nô nặng trĩu trên tấm lưng còng. Khi được gọi, y sẽ tuột nó khỏi vai bằng một cú vặn cái dây đeo, ném phịch nó xuống cát theo tư thế tháp Pisa, lau mặt y bằng tay áo, và tiếp tục thao tác bằng tay một món đồ lắp ráp có mũi tên và vòng quay với những con số trên nắp thùng. Mũi tên kêu ken két và quay vu vu vòng quanh. Vận may sẽ ấn định kích thước chiếc bánh quế giá một xu. Bánh càng to thì tôi càng lấy làm tiếc cho y.

    Quá trình tắm được tiến hành trên phần khác của bãi biển. Các tay bơi chuyên nghiệp, những người Bax-cơ vạm vỡ mặc đồ tắm đen, ở đó để giúp phụ nữ và trẻ em tận hưởng nỗi kinh sợ từ sóng nhào. Một baigneur như vậy sẽ đặt bạn quay lưng hướng về cơn sóng đang đến và giữ bạn bằng cách nắm tay bạn lúc ngọn sóng xanh lục vừa dâng lên, xoay khối bọt biển, vừa ập lên bạn từ phía sau, đánh văng đôi chân bạn bằng một cú quất mạnh mẽ. Sau cả tá cú ngã ấy, tay baigneur, bóng loáng như con hải cẩu, sẽ lại dẫn cái bổn phận phải trông nom, mũi khụt khịt ướt, thở hổn hển, run lẩy bẩy của gã về phía đất liền, tới bãi biển phẳng lì, nơi một bà già không thể quên được với những sợi râu bạc trên cằm đang mau mắn chọn áo choàng tắm từ vài cái treo trên dây phơi quần áo. Trong sự an toàn của một cabin nhỏ, ta sẽ được một nhân viên phục vụ khác nữa giúp lột bỏ bộ đồ tắm ướt đẫm, đặc cát. Nó sẽ rơi bộp xuống ván, và, người vẫn bóng loáng, ta sẽ bước ra khỏi nó, giẫm lên các vạch xanh xanh, khuyếch tán của nó. Cabin toả mùi thông. Người phục vụ, một bác gù với những nếp nhăn rạng rỡ, bưng đến một chậu nước nóng bốc hơi, mà ta sẽ ngâm chân vào. Tôi được bác ấy cho biết, và giữ mãi từ hồi ấy trong ngăn kính bộ nhớ tôi, rằng “bướm” trong tiếng Bax-cơ là misericoletea – hoặc chí ít thì nghe cũng có vẻ như vậy (trong số bảy từ mà tôi tìm thấy ở các cuốn từ điển thì từ gần nhất là micheletea)

    III

    Trên phần nâu hơn và ẩm hơn của bãi tắm, cái phần mà lúc thuỷ triều xuống thấp sẽ sinh ra thứ bùn tốt nhất cho các lâu đài, tôi thấy mình đang đào bới, một ngày nọ, vai kề vai với cô bé người Pháp tên là Colette.

    Em sẽ lên mười vào tháng Mười một, tôi mới lên mười hồi tháng Tư. Sự chú ý đã bị hút đến mảnh vỏ trai lởm chởm màu tím mà em giẫm lên bằng gan bàn chân để trần của đôi chân thon ngón dài của mình. Không, tôi không phải người Anh. Cặp mắt em màu lục nhạt điểm những đốm sáng tràn ra từ các đốm tàn nhang bao phủ khuôn mặt sắc nét. Em mặc thứ trang phục mà hiện nay có thể gọi là “đồ bay”, gồm có áo thun xanh lam với tay áo xắn lên và quần soọc dệt kim xanh lam. Thoạt đầu, tôi cứ ngỡ em là con trai, và sau đó bị bối rối bởi chiếc vòng trên cổ tay mảnh mai và những lọn tóc nâu xoắn ốc đung đưa dưới chiếc mũ lính thuỷ của em.

    Em nói líu lo hàng tràng như tiếng chim hót nhanh, pha tiếng Anh gia sư với tiếng Pháp Paris. Hai năm trước, cũng trên plage này, tôi từng rất quyến luyến với cô con gái nhỏ đáng yêu, rám nắng của một thầy thuốc người Xéc-Bi; nhưng khi gặp Colette, thì tôi biết ngay rằng đây mới là điều có thật. Với tôi, Colette dường như kỳ lạ hơn nhiều so với mọi bạn chơi tình cờ khác tại Biarritz! Không biết làm sao mà tôi có cảm giác là em ít hạnh phúc hơn tôi, ít được yêu thương hơn. Một vết thâm tím trên cẳng tay mảnh khảnh phủ đầy lông tơ của em gây ra nhiều phỏng đoán dễ sợ. “Nó véo đau y như mẹ,” em bảo, khi nói về một con cua. Tôi lập nhiều mưu kế khác nhau để cứu em khỏi bố mẹ, những kẻ “des bourgeois de Paris” như tôi nghe lỏm được ai đó kể cho mẹ tôi cùng một cái nhún vai thoáng qua. Tôi diễn dịch thái độ khinh bỉ đó theo cách riêng, do tôi biết là những người ấy đã đi suốt quãng đường từ Paris trong chiếc li-mô-sin xanh-và-vàng của họ (một chuyến phiêu lưu thời thượng hồi ấy) nhưng lại cho Colette đi, một cách buồn tẻ, cùng con chó và nữ gia sư của em, bằng chuyến tàu khách bình thường. Con chó ấy là một con phốc-te-ri-ê giống cái với những cái chuông trên vòng cổ và cái mông ve vẩy rất hăng. Do nỗi phấn chấn thuần khiết, nó liếm nước mặn trào ra từ chiếc xô đồ chơi của Collete. Tôi còn nhớ cánh buồm, buổi hoàng hôn, cùng ngọn hải đăng được vẽ trên chiếc xô ấy, nhưng tôi không thể nhớ lại tên con chó, và điều đó làm tôi day dứt không yên.

    Trong thời gian hai tháng lưu lại Biarritz, đam mê tôi dành cho Colette gần như vượt qua đam mê tôi dành cho bướm. Do bố mẹ tôi không thích gặp bố mẹ em, nên tôi chỉ được thấy em trên bãi biển; nhưng tôi luôn nghĩ về em. Nếu nhận ra em vừa khóc, thì tôi thấy trong lòng cồn lên nỗi thống khổ bất lực đến nỗi nó làm lệ dâng đến mắt. Tôi không thể diệt bọn muỗi đã để lại các nốt đốt trên cần cổ mảnh mai của em, nhưng tôi có thể, và đã từng, đấm tay không thắng một thằng nhóc tóc đỏ vô lễ với em. Em hay cho tôi một vốc ấm đầy ắp kẹo cứng. Ngày nọ, trong lúc chúng tôi đang cùng nhau cúi xuống một con sao biển, và những lọn tóc quăn của Colette cù vào tai tôi, em bỗng quay về phía tôi và hôn tôi lên má. Tôi xúc động đến nỗi tất cả những gì tôi có thể nghĩ được để thốt lên lời là, “Đồ khỉ con.”

    Tôi có một đồng vàng mà tôi định sẽ trả cho cuộc đào tẩu của hai đứa. Tôi muốn đưa em đi đâu nhỉ? Tây-Ban-Nha? Mỹ? Những ngọn núi trên Pau? “Là-bas, là-bas, dans la montagne,” như tôi từng nghe Carmen hát tại nhà hát opera. Một đêm kỳ lạ nọ, tôi nằm thức, lắng nghe tiếng biển ầm ì hết đợt này đến đợt khác và lên kế hoạch cho chuyến trốn chạy của hai đứa. Biển dường như dâng cao và dò dẫm trong bóng tối rồi nặng nề đổ sụp lên mặt nó.

    Về cuộc đào thoát thật của chúng tôi, thì tôi chẳng có gì nhiều nhặn để thuật lại. Trí nhớ tôi chỉ còn giữ được loáng thoáng bóng em ngoan ngoãn xỏ chân vào đôi giày vải bạt đế cói, bên khuất gió của một chiếc lều đang bay phần phật, trong lúc tôi nhét cây vợt bắt bướm gấp được vào chiếc túi giấy màu nâu. Bóng hình tiếp theo về cảnh lẩn trốn sự truy đuổi bằng cách chui vào một rạp chiếu tối đen như hắc ín gần Sòng Bạc (dĩ nhiên thứ đó  hoàn toàn nằm ngoài giới hạn). Chúng tôi ngồi đấy, nằm tay nhau ngang qua con chó, nó thỉnh thoảng lại nhẹ nhàng lắc leng keng trong lòng Colette, và được cho xem một trận đấu bò giật giật, lất phất mưa, nhưng hết sức phấn khích tại San Sebastián. Bóng hình cuối cùng thuộc về chính tôi, đang bị gia sư của mình dẫn ra ngoài dọc theo lối đi dạo. Đôi chân dài của ông ấy chuyển động với vẻ gì đó hồ như sự nhanh nhẹn đáng ngại và tôi có thể thấy các cơ hàm của ông đang hoạt động dứt khoát dưới lớp da căng. Thằng em tôi, đeo kính, chín tuổi, mà ông tình cờ đang giữ bằng tay kia, cứ tìm cách chạy lon ton lên trước để ngó tôi với sự hiếu kỳ đầy nể sợ, như con cú nhỏ.

    Trong số đồ lưu niệm lặt vặt kiếm được tại Biarritz trước khi rời đi, thứ tôi thích không phải chú bò nhỏ bằng đá đen và cũng không phải cái vỏ ốc biển kêu âm ư mà là món đồ với thời nay có vẻ gần như mang tính biểu tượng – một chiếc quản bút làm từ đá bọt biển với lỗ soi nhỏ xíu bằng pha lê ở phần trang trí. Ta giữ nó thật sát mắt này, nheo mắt kia lại, và khi ta gạt bỏ được ánh mờ của lông mi chính mình, thì có thể thấy bên trong nó một cảnh huyền diệu chụp vịnh và đường vách đá ngưng lại nơi ngọn hải đăng.

    Và giờ đây, một điều thú vị tình cờ xảy ra. Quá trình tái tạo chiếc quản bút cùng thế giới vi mô trong lỗ ngắm của nó đã khuyến khích trí nhớ tôi đến với nỗ lực cuối cùng. Tôi gắng thêm lần nữa để nhớ lại tên con chó của Colette – và, một cách đắc thắng, dọc theo những bãi biển xa xôi ấy, trên cát chiều bóng loáng thời dĩ vãng, nơi từng dấu chân chậm chậm lấp đầy nước hoàng hôn, nó tới đây, nó tới đây, vang vọng và rúng động: Floss, Floss, Floss!

    Colette đã quay về Paris lúc chúng tôi lưu lại đó một ngày trước khi tiếp tục hành trình về nhà mình. Và ở nơi đó, trong một công viên nâu vàng dưới bầu trời xanh lam lạnh lẽo, tôi được thấy em (tôi tin là theo dàn xếp giữa những người thầy thông thái của chúng tôi) lần cuối. Em mang một chiếc vòng với cái que ngắn để lái nó theo, mọi thứ quanh em đều hết sức chuẩn mực và thời thượng theo lối tenue-de-ville-pour-fillettes, hòa hợp cùng mùa thu và Paris. Em lấy từ gia sư mình và giúi vào tay em trai tôi món quà ly biệt, một hộp quả hạnh bọc đường, nghĩa là, tôi biết, cho chỉ mình tôi; ngay sau đó, em đi, vỗ vỗ chiếc vòng lấp lánh xuyên qua ánh sáng và bóng râm, quay quay quanh một đài phun nước nghẹt lá khô gần nơi tôi đứng. Những chiếc lá lẫn vào ký ức tôi cùng da giày và găng tay em, và nơi đó còn có, theo tôi nhớ, vài chi tiết ở trang phục em (có lẽ là dải ruy băng trên chiếc mũ Xcốt-len, hoặc hoa văn trên đôi tất) mà hồi ấy nhắc tôi nghĩ đến xoắn ốc cầu vồng trong hòn bi ve. Tôi dường như vẫn đương giữ dải ngũ sắc ấy, mà không biết đích xác phải nhét nó vào đâu, trong khi em cùng chiếc vòng của mình chạy quanh tôi càng lúc càng nhanh và cuối cùng thì tan biến giữa những chiếc bóng thon gầy được buông trên lối đi rải sỏi bởi các cung tròn đan nhau của hàng rào thấp lượn sóng.




    24 November 2015

    Một Góc Nhìn về Kinh Tế VN trong thế kỷ 20


    Người Việt vốn âm tính, duy tình hơn duy lý, kiểu tư duy đó không hẳn đã hoàn toàn dở, tuy nhiên, trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, thì ai muốn sống còn và thành đạt, thì nên học cách tư duy biện chứng, dựa trên số liệu và các phương pháp phân tích khoa học. 

    Có nhiều "ảo giác" vẫn luẩn quẩn trong tiềm thức người Việt, chẳng hạn như huyền thoại về một Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông, hay một miền Nam mà Lý Quang Diệu phải ao ước. Tuy nhiên, sự thực khác hẳn những gì người ta vẫn nghĩ. Singapore chưa bao giờ thua kém Sài Gòn, nếu như không muốn nói là luôn có GDP đầu người tối thiểu là gấp vài lần. Và, suốt những năm chiến tranh, GDP đầu người của miền Bắc VN thật ra cũng không thua miền Nam VN là bao, mặc cho các hỗ trợ kinh tế khổng lồ từ Mỹ cho miền Nam VN. 

    Trên đây là đồ thị dữ liệu về GDP trên đầu người của một số quốc gia châu Á từ năm 1913 cho đến năm 1970. Điều thú vị trong báo cáo này là nó bao gồm cả GDP của miền Nam và miền Bắc VN. Có thể thấy điểm nổi bật là sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản, và một sự thật đáng buồn là cả Bắc và Nam Việt Nam lúc nào cũng nghèo đói như nhau và ở mức thấp nhất trong các nước châu Á được nói đến trong báo cáo. Suốt một thời gian dài từ 1940 đến 1970, kinh tế cả hai miền không phát triển trong khi Nhật Bản và Hàn Quốc cùng các quốc gia khác đều tăng trưởng tốc độ cao. Chiến tranh đã làm cho đất nước tụt hậu ít nhất là 50 năm, tuy nhiên, không thể phủ nhận sự thật là từ đầu thế kỷ 19, Việt Nam đã là quốc gia rất, rất nghèo.

    Sau 75, đất nước còn rơi vào khủng hoảng trầm trọng do cấm vận, do mất hết viện trợ từ Mỹ, Nga, Trung Quốc, do các sai lầm trong điều hành kinh tế, và chỉ mới thật sự phát triển, và phát triển rất tốt, từ 5h sáng ngày 4/2/1994, sau khi Mỹ bỏ cấm vận. Nhưng đó là một câu chuyện khác! 

    Nguồn: 

    Economic Divergence in East Asia:
    New Benchmark Estimates of Levels of Wages and GDP, 1913-1970
    Jean-Pascal Bassino* and Pierre van der Eng**

    17 September 2015

    Dịch Giả

    Bản dịch Lolita này thuộc sở hữu của dịch giả Thiên Lương.
    Mọi trích dẫn từ bản dịch phải được ghi cùng tên dịch giả.



    Các tác phẩm Nabokov đã được Thiên Lương dịch và xuất bản:

    2014. Lolita (ANDI).
    2014. Dấu hiệu và Biểu hiệu (Tuổi Trẻ Cuối Tuần).
    2014. Cảnh đời một quái vật kép (Sông Hương).
    2015. Chị em nhà Vane (Văn Nghệ Quân Đội).
    2015. Mối Tình Đầu (Nhà Văn & Tác Phẩm).
    2016. Cơn Giông (Sông Hương).
    2016. Mỹ Nhân Nga - Tổng tập truyện ngắn. Quyển 1. (Zenbook và nxb Văn Học).

    25 August 2015

    Câu chuyện về người thừa kế di sản James Joyce

    Biên soạn từ nhiều nguồn.

    Vào đêm tất niên 2012, Twitter feed của trang web Ubu, nơi lưu dữ liệu của các nghệ sĩ tiên phong, đã đăng đường dẫn đến một bài báo trên tờ The Irish Times về việc hết hạn bản quyền ở châu Âu với các tác phẩm của James Joyce, nhà văn vĩ đại người gốc Ireland, tác giả kiệt tác Ulysses.

    James Joyce

    Đường dẫn đi cùng một thông điệp cộc lốc gửi tới cháu nội và cũng là người thừa kế duy nhất còn sống của Joyce: “Mẹ mày, Stephen Joyce bản quyền các tác phẩm của James Joyce tại EU chấm dứt giữa đêm nay”. Trong khi ngôn từ có thể cộc lốc một cách bất thường thì cảm xúc mà nó biểu lộ lại rất phổ biến.

    Hành trình thành công sản của các tác phẩm chính của Joyce đã được tuyên truyền gần như khắp nơi, như thể nó là phiên bản sách về sự hủy diệt của một vì sao chết trong bộ phim Star Wars, với Stephen Joyce vào vai một tay Darth Vader trí thức nào đó bỗng nhiên không còn ở vị trí thở hồng hộc vào gáy những kẻ phiến loạn mê Joyce nữa.

    Cuộc chiến bản quyền

    Stephen Joyce, cháu nội của James Joyce (1882-1941), từ giữa những năm 1990 đã nắm quyền lực tối cao với một trong những di sản văn chương hiếu chiến và bế tắc nhất nhân loại (có lẽ chỉ có thể so bì với Paul, con trai của Louis Zukofsky, cho danh hiệu người thực hiện di chúc cứng rắn nhất thế giới văn chương).

    Các học giả bị yêu cầu phải thanh toán các khoản phí bản quyền cắt cổ, và thường xuyên bị từ chối thẳng thừng quyền trích dẫn bất cứ thứ gì từ các tác phẩm của Joyce. Những toan tính sáng tạo các phóng tác theo Ulysses, Finnegans Wake, Dubliners, hay A portrait of the artist as a young man, hoặc những buổi đọc công cộng các cuốn sách này được điều đình với thái độ ngờ vực và thù địch.

    Trong một bài báo năm 2006 trên tờ The NewYorker, D. T. Max đã xem xét mối quan hệ quá đỗi khó chịu giữa Stephen và những người hâm mộ Joyce. Max viết về việc Stephen, tại một hội nghị chuyên đề năm 1988 ở Venice nhân “ngày hội Bloom”, đã tuyên bố rằng ông ta đã “hủy mọi lá thư mà bà dì Lucia của ông ta [và cũng là cô con gái gây phiền muộn của James Joyce] viết cho ông và vợ ông” và rằng ông ta đã “làm điều tương tự với các bưu thiếp và điện tín gửi đến Lucia từ Samuel Beckett, người đã dan díu với bà hồi những năm 1920”.

    Ulysses

    Những người hâm mộ James Joyce tổ chức lễ hội mang tên Bloom, nhân vật chính trong Ulysses, vào ngày 16-6 hằng năm. Năm 2004, kế hoạch tổ chức đợt đọc sách nơi công cộng với các trích đoạn từ Ulysses để kỷ niệm 100 năm ngày hội Bloom ở Dublin đã bị hủy bỏ, sau khi Stephen hăm dọa chính quyền Ireland rằng họ vi phạm bản quyền di sản. Thèm muốn phá rối của Stephen thật lố bịch và dường như không bao giờ có thể được thỏa mãn.

    Nhằm mục đích vinh danh đại văn hào, Thư viện Quốc gia Ireland mở một khu mới để trưng bày nhiều tư liệu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp James Joyce, bao gồm các chứng liệu, bản thảo, thư từ trao đổi giữa Joyce với người thân, bạn bè, nhà xuất bản, độc giả, vợ - kể cả những lá thư hoàn toàn riêng tư chứa đầy từ ngữ tục tĩu viết riêng cho vợ - và đặc biệt là, lần đầu tiên, bản thảo gốc của Ulysses được trưng bày.

    Stephen đã cảnh cáo Thư viện Quốc gia Ireland rằng kế hoạch trưng bày bản thảo của ông nội là vi phạm bản quyền. (Thượng viện Ireland phải thông qua một điều luật bổ sung khẩn cấp để ngăn cản ông ta).

    Sự phản kháng của Stephen đã làm cho Abbey Theatre phải hủy một buổi diễn vở Exiles của Joyce, và ông ta tuyên bố với Adam Harvey, một nghệ sĩ trình diễn đã thuộc lòng một phần Finnegans Wake với mong muốn thuật lại được chúng trên sân khấu, rằng anh ta “đã vi phạm” bản quyền di sản. Harvey sau này đã phát hiện ra rằng, theo luật Anh, Joyce chẳng có quyền dừng buổi biểu diễn của anh.

    Cơ hội mới cho James Joyce

    Người ta cho rằng các học giả chuyên nghiên cứu về Joyce sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn công chúng bởi những phô trương quyền lực thô bạo với di sản. Sam Slote, hiện đang dạy văn học Anh ở Trinity College Dublin, và cũng là một nhân vật xuất chúng trong lĩnh vực nghiên cứu về Joyce, chỉ ra rằng vẫn chưa rõ tình trạng của các ấn bản ra đời sau khi tác giả chết - chẳng hạn các bức thư và bản thảo, cũng như Stephen hero (một tiểu thuyết tự truyện dang dở mà Joyce sửa tận gốc như A Portrait) và Giacomo Joyce sẽ như thế nào.

    Sean Latham, giáo sư tiếng Anh tại Đại học Tulsa, chủ bút “James Joyce tam cá nguyệt san”, cũng đồng quan điểm rằng đây là một cột mốc quan trọng, nhưng không báo hiệu “một thời kỳ phục hưng sôi nổi trong việc nghiên cứu Joyce. Chúng ta đã phục hưng việc này hàng thập kỷ rồi.

    Sự thật là các tác phẩm chưa công bố - đáng kể nhất trong đó là các lá thư của Joyce - giờ đã hết bản quyền ở Mỹ, và dẫu sao thì cũng sẽ có những ảnh hưởng lớn đến tiểu sử ông ấy. Tôi đã biết rằng đang có vài dự án lên kế hoạch in ấn những lá thư này. Hiện nay chúng tôi đã có ba tập thư từ. Một dự án đã hoàn tất. Nhiều dự án đang triển khai.

    Có những lá thư mà Stephen cương quyết từ chối công bố nên việc in ấn chúng sẽ thật sự quan trọng. Chúng ta sẽ có đủ loại chuyện mà cuối cùng chúng ta sẽ được phép kể về Joyce và cuộc đời ông ấy, những chuyện trước giờ chúng ta chưa thể kể”.

    Ngay sau khi hết thời hạn bản quyền, các tác phẩm của James Joyce nhanh chóng xuất hiện với các ấn bản mới, các tuyển tập mới và các bản dịch mới. Sean nhắc đến các bản in mới của Finnegans Wake, Ulysses, A Portrait và Dubliners. Bản Ulysses tiếng ý sắp được in và Sam Slote đang chuẩn bị cho một phiên bản chú giải cặn kẽ về cuốn tiểu thuyết này.

    Chắc chắn cũng có khá nhiều nhà xuất bản yếu kém và cơ hội sẽ lợi dụng tình trạng công hữu của các tác phẩm. Sam cho xem một bộ sưu tập đặc biệt gớm guốc - một hộp bọc giả da màu lục có nắp đậy, chứa vài tập sách nhỏ của Joyce cũng bọc da giả. Ulysses được in thành ba tập, và để cho các tập có kích thước bằng nhau, nhà sách đã chuyển chương dài nhất, Circe, vào một nơi khác hẳn trong cuốn sách.

    Trong hộp còn chứa một thứ gì đó được gọi là “Tinh tuyển truyện ngắn”, mà hóa ra chính là Dubliners với các truyện ngắn được sắp xếp lại, một cách ngu ngốc, theo thứ tự bảng chữ cái. Chẳng có gì ngạc nhiên là Stephen Joyce đã trấn áp những thứ này một cách hung ác. “Tôi biết ít nhất là một người - Sam nói - đã mua hai cuốn này, một cuốn được ông ta giữ nguyên đai nguyên kiện do cho rằng chúng sẽ lên giá. Nhưng ta sẽ còn được thấy cả đống sách tương tự thế này”.

    Sean Latham đồng ý rằng các ấn bản sách của Joyce sẽ không còn được quản lý chất lượng tốt như trước nữa, nhưng không cho rằng đó là một diễn biến tệ hại, và vạch ra rằng chẳng ai còn quan tâm mấy đến việc có rất nhiều ấn bản sách của Dicken và Shakespeare nữa.

    Ngay Ulysses, kiệt tác quan trọng nhất của James Joyce, cuốn sách đứng đầu hàng loạt bảng xếp hạng các tiểu thuyết vĩ đại nhất của nhân loại, cũng có một lịch sử xuất bản lạ lùng. Ấn bản đầu tiên của nó xuất hiện vào năm 1922 tại Paris hiển nhiên là có cực nhiều sai sót, đó là điều không cần phải bàn cãi. Trước đấy, khi còn được đăng từng kỳ trên The Little Review, nhiều phiên bản của tác phẩm đã phải qua nhiều tay và tùy vào sở thích, ý đồ riêng của biên tập viên mà tác phẩm bị cắt xén, bị giản lược, hoặc sửa.

    Trong thời gian này, Joyce tiếp tục biên tập, thêm thắt nhiều chi tiết khác vào tác phẩm. Do đó, giữa các văn bản có sự khác biệt đáng kể. Chính Joyce lúc còn sống cũng không khẳng định phiên bản nào đúng. Hậu quả là không có ấn bản nào được xem là thật sự hoàn hảo, khiến cho tác phẩm mãi là đề tài tranh cãi bất tận giữa các học giả.

    Mặc dù vô cùng khó đọc, dài khoảng 265.000 từ và sử dụng từ vựng tới 30.300 từ, Ulysses vẫn được đánh giá rất cao. Năm 1998, một hội đồng tuyển chọn gồm 10 người - đa số là người Mỹ - của New York Modern Library, một nhà xuất bản thuộc Random House, đã cùng nhau chọn danh sách 100 tác phẩm viết bằng tiếng Anh có giá trị nhất của thế kỷ 20.

    Joyce có hai tác phẩm được chọn: Ulysses đứng đầu bảng và A portrait of the artist as a young man hạng ba. The great Gatsby của Scott Fitzgerald hạng nhì và Lolita của Vladimir Nabokov đứng thứ tư. Quả thật, thứ tự xếp hạng các kiệt tác này có thay đổi trong những lần bình chọn khác nhau của các nhóm độc giả khác nhau, nhưng các tác phẩm của James Joyce luôn đứng ở vị trí đầu tiên.

    Chính sự phức tạp liên quan đến bản thân nội dung Ulysses cũng như các phiên bản của nó phần nào làm cho việc Stephen hết sức cứng rắn khi điều đình về bản quyền di sản, càng khiến giới học thuật và những người hâm mộ James Joyce bất mãn với người thừa kế này.

    Dẫu sao chăng nữa, việc chấm dứt thời hạn bảo vệ bản quyền các tác phẩm của James Joyce đã giúp cho cả các tác phẩm phái sinh rộng đường đến với công chúng, sẽ có nhiều người biết đến các kiệt tác của ông hơn, và đó cũng là sự tôn vinh cao quý nhất với một trong những nhà văn bậc thầy của nhân loại.  

    Bài đã đăng trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần

    10 August 2015

    Thông tin sai lệch – Mảnh đất màu cho thuyết âm mưu



    Vụ thảm sát 6 người ở Bình Phước vừa qua đã gây nên sự căm phẫn và nỗi kinh hãi đến tột cùng trong dư luận, và việc phá án mau lẹ của các cơ quan công quyền phần nào làm yên lòng dân và đem lại niềm tin vào công lý và lẽ phải ở đời. Tuy nhiên, vẫn có không ít lời xì xầm, nhất là trên facebook, về điểm này điểm nọ liên quan đến vụ án. 

    Thực ra thì bản chất sự hoài nghi ấy không có gì mới. Trên thế giới, nhất là ở Mỹ, luôn có những người theo thuyết âm mưu (tiếng Anh: conspiracy theory). Những người này luôn tìm cách lý giải các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội theo hướng gán cho chúng những âm mưu bí mật của các thế lực ngầm khủng khiếp nào đó đằng sau.

    Giả thuyết của họ luôn đi ngược lại các giải thích chính thống, và nó luôn nhằm đến việc buộc tội một nhóm người hay một tổ chức, hay một yếu tố siêu nhiên nào đó gây nên hay đứng đằng sau một sự kiện hoặc một hiện tượng gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế chính trị xã hội. Các hiện tượng đó có thể đơn giản là một vụ giết người thảm khốc, một vụ khủng bố dã man, một hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ, thậm chí là những “bí mật” hết sức hoang đường nào đó, chẳng hạn như người ngoài hành tinh đang làm việc cho các cơ quan chính phủ Mỹ.

    Thuyết âm mưu khá được ưa thích, ngoài lý do người dân luôn hoài nghi vào những thứ họ không hiểu rõ, còn vì sự hấp dẫn ly kỳ của nó. Một trong các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng có liên quan đến thuyết âm mưu là Fahrenheit 9/11 – bộ phim giành giải cành cọ vàng ở Cannes của đạo diễn Michael Moore. Bằng cách khéo léo sử dụng các tin tức chọn lọc, bộ phim này đã đưa ra những giả thuyết của riêng mình về Tổng thống Bush cùng những kẻ thực sự đứng sau vụ khủng bố 11.9. Đương nhiên là giả thuyết này khác xa với những gì chính quyền Mỹ vẫn công bố.

    Ngoài ra, bất chấp các bằng chứng khoa học hiển nhiên, người ta vẫn không thôi nghi ngờ vào những sự kiện như cuộc đổ bộ đầu tiên lên Mặt Trăng của người Mỹ, vụ ám sát tổng thống Kennedy, và đủ thứ ầm ĩ khác.

    Người ta vẫn chưa thể lý giải nguyên nhân tại sao có nhiều người thực tâm tin vào các thuyết âm mưu, và phủ nhận tất cả các bằng chứng khoa học và pháp lý khác. Một số học giả cho rằng do con người sẵn có niềm tin từ thời thượng cổ vào sự tồn tại của các thế lực hắc ám trong tự nhiên, những học giả khác lại cho rằng nhiều người muốn tìm cách giải thích các sự kiện, hiện tượng quan trọng bằng những nguyên nhân quan trọng, chẳng hạn họ không bao giờ chịu tin rằng một thứ gì đó khổng lồ và khó hiểu như đám mây lại đơn giản chỉ do nước bốc hơi lên trời mà thôi. Nói chung, họ cần một lý do nào đó đủ kinh khủng để lý giải cho một sự kiện họ cho là hết sức kinh khủng.

    Sự thiếu vắng lòng tin cũng là một nguyên nhân quan trọng đưa đến các thuyết âm mưu. Người dân nghèo, ít học, bị loại ra khỏi cuộc chơi, ở các tầng lớp thấp trong xã hội rất dễ là nạn nhân của các thuyết âm mưu, và họ chính là những kẻ tin một cách thành thực nhất vào các giả thuyết hoang đường nhất. Những người có học thức cao, thu nhập cao, ở giới trung lưu và cao hơn thường ít khi tin vào các thuyết âm mưu, do họ được thông tin tốt hơn và đa chiều hơn, họ hòa nhập cùng hệ thống chính trị và kinh tế, họ có thái độ tích cực hơn với xã hội, và họ có xu hướng tin vào các thông tin chính thống mà họ nhận được. Điều đó cũng dễ hiểu, vì càng ở trên cao thì người ta càng có tầm nhìn bao quát hơn.

    Một trong những ví dụ đơn giản là bàn làm việc tiếp dân của các cơ quan. Những nơi để cửa kính thấp, cho khách thấy rõ hồ sơ được xử lý thế nào trên bàn, thường mang lại cảm giác yên tâm hơn cho người dân.

    Quay trở lại vụ thảm sát Bình Phước, có thể thấy rằng sự kiện khủng khiếp này được gieo lên mảnh đất đầy những hoài nghi ngay từ đầu. Do chạy đua theo thông tin, nhằm câu độc giả, một số tờ báo đã đưa tin vội vã, và do đó có rất nhiều tin trái ngược lẫn nhau, không từ những nguồn tin cậy, thậm chí là bịa đặt, làm cho độc giả vô cùng hoang mang, không biết đâu là thật, là giả. Có thể nói rằng chính những thông tin sai lệch và không được đính chính này đã gợi lên các giả thuyết âm mưu trong một bộ phận dư luận.

    Thực tế thì không thể tiêu diệt thuyết âm mưu, nó là một phần của văn hóa. Dù xã hội có văn minh đến đâu thì bất cứ sự kiện lớn nào vẫn sẽ là mảnh đất cho các cây âm mưu lớn mọc lên. Tuy nhiên, để cho các giả thuyết hoang đường ấy chỉ khu trú trong một bộ phận dân cư nhất định, và không bị kẻ xấu lợi dụng, kích động người dân thì cần khá nhiều việc để làm, từ nâng cao văn hóa và trách nhiệm của phóng viên, cho đến sự minh bạch của các cơ quan quản lý nhà nước. Người dân sẽ tin tưởng hơn vào thông tin chính thống khi họ nghĩ rằng họ được biết, được bàn, được làm và được kiểm tra.

    http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/thong-tin-sai-lech-manh-dat-mau-cho-thuyet-am-muu-585372.html

    15 July 2015

    Mất chủ quyền quốc gia trên mạng

    Từ Phong

    Hàng chục triệu người Việt Nam đang tự nguyện hiến dâng hầu hết thông tin cá nhân của mình cho các mạng xã hội. Điều này tạo ra những nguy cơ lớn về an ninh, về chủ quyền quốc gia. Đã đến lúc phải thay đổi.



    Theo Facebook, hiện nay họ có 30 triệu người dùng tại Việt Nam (trong đó 27 triệu người dùng trên thiết bị di động).

    Tính đến tháng 1.2015, lượng người Việt dùng Facebook mỗi ngày đã tăng 43% so với cùng kì năm ngoái. Về độ tuổi người dùng, có đến 3/4 người Việt dùng Facebook từ 18 - 34 tuổi. Ngoài ra, người Việt hiện dành khoảng 2 tiếng rưỡi mỗi ngày cho Facebook, gấp đôi thời gian dành để xem ti vi.

    Ảnh hưởng của Facebook: từ lượng thành chất

    Những con số thống kê này cho thấy ảnh hưởng ngày càng kinh khủng của Facebook nói riêng và các mạng xã hội nói chung lên cuộc sống người Việt hiện nay. Chúng ta đang bỏ những nguồn lực khổng lồ của cả dân tộc vào các hệ thống công nghệ của nước ngoài, và đóng góp đáng kể cho sự thành công của những tập đoàn trị giá hàng trăm tỉ đô la Mỹ.

    Không phủ nhận những mặt tích cực của mạng xã hội lên đời sống từng cá nhân và cả xã hội, nhờ có nó mà chúng ta có thể giữ được quan hệ với bạn bè, tìm kiếm các mối quan hệ mới, gặp lại những người cũ, dù chỉ trên không gian ảo. Và cũng nhờ nó mà nhiều vấn đề đã được khơi lên trong cộng đồng để rồi tạo sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, chẳng hạn như chất lượng các bản dịch văn học tại Việt Nam. Sau khi cư dân Facebook lên tiếng về các thảm họa dịch thuật, thì giới chuyên môn và các nhà sách đã phải cẩn trọng hơn, phải thu hồi và sửa chữa các bản dịch lỗi.

    Tuy nhiên, những mặt trái của mạng xã hội cũng làm chúng ta phải e ngại. Mới đây, một cô gái trẻ đã tự tử do không chịu nổi những lời đàm tiếu trên Facebook sau khi bị người yêu tung đoạn video quay cảnh nhạy cảm giữa hai người lên mạng. Một nhà khoa học đã phải mất nhiều ngày giải thích về bằng tiến sỹ khoa học của mình trước những tấn công vu cáo ông.

    Những bài viết tràn ngập trên mạng hằng ngày đả kích các lãnh đạo đất nước, phỉ báng vĩ nhân, thậm chí là kích động hằn thù dân tộc. Rất nhiều thông tin không thể kiểm chứng và từ những nguồn không tin cậy đã làm cho thành viên Facebook hoang mang và nhiều khi dẫn đến các phản ứng tập thể mù quáng, mà những trường hợp điển hình nhất gần đây thuộc về dự án sân bay Long Thành, thay cây xanh và thiết kế đường tàu trên cao tại Hà Nội. Bất chấp các ý kiến chuyên gia và quan điểm của những người có trách nhiệm, vẫn có một phần đám đông trên Facebook không thôi hoài nghi về tính hợp lý cùng những mặt tích cực của các dự án này.

    Sự tự do gần như tuyệt đối cùng tính vô danh tương đối của xã hội Facebook đã tạo ra sự bình đẳng giả tạo về mặt thông tin. Người ta không còn phân biệt được sự khác nhau giữa các ý kiến chuyên môn của một giáo sư toán với một cậu sinh viên, giữa một chuyên gia danh tiếng trong ngành hàng không với một kỹ sư nông nghiệp về hưu nào đó.

    Chứng nghiện Facebook

    Theo kết quả một thăm dò ý kiến trên một tờ báo lớn, có đến 47,9% người tham gia cho rằng “người dùng đã chia sẻ quá nhiều thứ không cần thiết trên Facebook”, 34,5% cho rằng “người dùng lãng phí thời gian trên Facebook”. Tại sao rất nhiều người bỏ thời gian quý báu của mình cho Facebook, mặc dù chính họ cũng phải công nhận rằng tuyệt đại đa số thời gian ấy là vô nghĩa, hoặc chí ít thì cũng không đem lại lợi ích vật chất hay tinh thần nào nhiều hơn so với khi họ dành chúng cho đời thực?

    Câu trả lời có thể tìm thấy qua bản chất của chiến lược kinh doanh mà các chuyên gia gọi là tiếp thị Skinner, lấy theo tên nhà khoa học nổi tiếng trong ngành tâm lý học hành vi. Trong thí nghiệm của mình, Burrhus Frederic Skinner đã cho một con chuột vào chiếc lồng có một cái đĩa không, một cần gạt, bóng đèn và loa; mỗi khi loa phát âm thanh hay bóng đèn bật sáng, thì chuột có thể nhận được thức ăn trên đĩa nếu nhấn vào cần gạt. Thực tế cho thấy chuột học được ngay cách gạt cần để nhận thức ăn theo các tín hiệu âm thanh và ánh sáng của chủ.


    Hầu hết các mạng xã hội thành công đều xây dựng đế chế của mình dựa theo phát hiện này của Skinner: các icon trên Facebook sẽ đổi màu, nhấp nháy, máy tính sẽ phát tín hiệu âm thanh quen thuộc khi có tin nhắn mới, khi có feed mới, khi có email mới, khi có tin tức mới; và khi người dùng mở trang web lên sẽ nhận được “phần thưởng”, dù cho họ có thích hay không cái gọi là “phần thưởng” ấy. Đó cũng là nguyên nhân làm cho các cô bé cập nhật ảnh mới liên tục, các cậu bé ngồi lì hàng ngày trên Facebook, các ông già về hưu viết hàng chục status hằng ngày để nhận được like của những người xa lạ. Không khó hình dung sự liên hệ giữa các dụng cụ thí nghiệm với các công cụ trên trang web của Facebook.

    Sau một thời gian nhất định gia nhập vào cộng đồng mạng, con người bị rơi vào ảo giác rằng họ sẽ phải thường xuyên mở trang web lên nếu không muốn bỏ lỡ điều gì đó, và thời gian họ dành cho mạng xã hội ngày càng tăng, tới mức họ không còn phân biệt được cuộc sống thật và ảo nữa. Có những người có 5.000 bạn trên Facebook và hàng chục ngàn follower (người theo dõi), nhưng đám tang họ thì lạnh lẽo ở quê với vài ba bạn học từ thời thơ ấu, khi chưa ai biết máy tính cá nhân là gì.
    Nói cách khác, ngày nay máy tính đã là chiếc lồng Skinner hiện đại, và mạng xã hội, trên phương diện nào đó, là một nhà máy khổng lồ với hàng tỉ chiếc lồng như thế.

    Có phải Facebook được chào đón ở mọi nơi?

    Thực ra Facebook không hiền lành vô tội như nụ cười của ông chủ tỷ phú của nó. Không ngẫu nhiên mà một số quốc gia cấm sử dụng mạng xã hội nước ngoài. Việc người dùng dành quá nhiều thời gian cho mạng, lưu trữ quá nhiều thông tin cá nhân trên mạng, và thậm chí trao đổi các thông tin nhạy cảm trên mạng, có thể làm cho ông chủ của kho dữ liệu khổng lồ ấy có được quyền lực khổng lồ với đời sống hàng tỉ công dân nước khác.

    Ngày nay, việc mất quyền kiểm soát với dữ liệu cá nhân của công dân cũng là mất một phần chủ quyền quốc gia. Có thể nói rằng, phần lớn người dân hiện nay sợ mất kết nối với Facebook và Google còn hơn là mất nước, mất điện, kẹt xe hay thiếu thức ăn. Kết nối với internet đã trở thành nhu cầu cơ bản nhất, thấp nhất, và cũng là quan trọng nhất của tháp nhu cầu Maslow.



    EU gần đây liên tục lên tiếng yêu cầu các mạng xã hội phải đảm bảo tính riêng tư của người sử dụng, phải cho phép họ xóa vĩnh viễn các dữ liệu cá nhân. Điều nguy hiểm hơn nữa là, thông qua việc sử dụng các cookie, Facebook theo dõi các hoạt động duyệt web của người dùng ngay cả khi họ không có tài khoản Facebook, hay đã hủy tài khoản, đăng xuất ra khỏi trang hoặc tắt chức năng quảng cáo trực tuyến. Điều này vi phạm luật pháp EU. Người dùng bị Facebook theo dõi khi họ sử dụng nút "like" được đặt trên hơn hàng triệu trang web bao gồm cả các trang của chính quyền và ngành y.

    Những quan ngại của EU không phải là cá biệt. Các nhà chính trị đã thấy rằng rất nhiều điều luật cần phải sửa đổi để phù hợp với phát triển vũ bão của công nghệ. Và đã có nhiều chuyên gia cảnh báo về viễn cảnh khủng khiếp - khi thế giới bị hủy diệt bởi một hệ thống mạng xã hội biết tự tiến hóa và vượt ra khỏi tầm kiểm soát của chính con người, như trong phim Terminator Genysis. Mặc dù hiện nay chuyện đó chỉ có thể xảy ra trong các tác phẩm khoa học viễn tưởng, nhưng thực ra cũng mới chỉ chừng 10 năm trước đây, không ai trong chúng ta có thể hình dung về việc con người sẽ tiêu tốn hầu hết thời gian của mình trên mạng, và lưu trữ hầu hết cuộc đời mình trên mạng như hiện nay. Vậy nên, rất nhiều thứ khó tưởng tượng nổi cũng có thể đến trong vòng 10 năm tới.

    Hành động nào của chúng ta?

    Có lẽ đã quá muộn để bàn về một mạng xã hội của riêng Việt Nam. Vả lại, trình độ công nghệ cũng chưa bao giờ cho phép chúng ta làm được điều ấy. Việc xử lý khối lượng thông tin khổng lồ trong thời gian thực đòi hỏi những công nghệ phức tạp hơn rất nhiều so với chúng ta hình dung qua gương mặt hiền lành và đơn sơ của Google hoặc Facebook.

    Tuy nhiên, nếu cứ phát triển nhanh như hiện nay, thì rất có thể sẽ đến lúc có cả trăm triệu người Việt dành trung bình mỗi ngày 8 tiếng để vào Facebook. Và viễn cảnh ấy thực sự đáng lo ngại. Để người dân không lãng phí thời gian của mình trên mạng vào việc đào bới thông tin làm giàu cho các ông chủ bên kia bờ đại dương, và không bị kích động định kỳ theo tâm lý đám đông bằng những hình ảnh cực đoan trên mạng, có lẽ cần đến những thay đổi căn bản về luật và cách tiếp cận vấn đề.

    Nếu chỉ nghĩ đến việc kiểm soát các tài khoản Facebook cá nhân và nghiêm trị các hành vi phạm pháp trên mạng thì rất khó giải quyết vấn đề. Bởi lẽ kẻ nắm quyền sinh sát với hàng triệu tài khoản Facebook Việt Nam lại không chịu kiểm soát của pháp luật Việt Nam. Và do mạng xã hội không có biên giới, cho nên rất khó có cơ sở pháp lý để xử lý những tài khoản mạng mặc dù được viết bằng tiếng Việt và chỉ hướng đến khách hàng người Việt, nhưng lại được đăng ký và sử dụng hoàn toàn ở nước ngoài. Về lâu dài thì không thể kiểm soát những thứ mà chúng ta hoàn toàn không có quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu.

    Có lẽ chúng ta nên tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác, và tìm ra mô hình hợp tác hai bên cùng có lợi với các mạng xã hội. Và nên yêu cầu họ, ngoài việc kiếm lợi cho mình, phải có những hợp tác tích cực về mặt an ninh thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, và kiểm soát các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam trên hệ thống của họ. Chủ quyền trên không gian mạng không còn là chuyện gì đó xa xôi, huyễn tưởng nữa, mà đã là yêu cầu cấp thiết, trước khi quá trễ. Vì có lẽ chúng ta sẽ chẳng có cơ hội cử ai đó quay lại quá khứ để thay đổi cái ngày mà mạng xã hội được cho phép hoạt động tự do tại Việt Nam.

    Bài đã đăng trên báo Thanh Niên: 
    http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/mat-chu-quyen-quoc-gia-tren-mang-583558.html