NABOKOV

Humbert và Lolita

Phim Lolita.

Lolita

Phim Lolita

Lolita

Phim Lolita

Nabokov

Life

Lolita và Humbert

Phim Lolita

1 February 2016

Cơn Giông

Vladimir Nabokov
Thiên Lương dịch

Tác phẩm đã đăng trong Tạp Chí Sông Hương số Tết Bính Thân



Nơi góc phố, dưới vòm hoa đoan, một mùi hương ngào ngạt quấn lấy tôi. Những tảng sương mù đồ sộ dâng lên trên trời đêm, và khi khoảnh sao cuối cùng bị nuốt chửng, thì ngọn gió mù loà, che mặt bằng tay áo, lùa thấp theo phố vắng. Trong bóng tối nhập nhoạng, trên cánh cửa sắt của tiệm cắt tóc, một chiếc khiên treo – chiếc thau vàng – chao như quả lắc.

Về đến nhà, tôi bắt gặp ngọn gió đã đợi trong phòng: nó sập mạnh khung cửa sổ – và vội vã thốc ngược lại khi tôi khép cánh cửa sau lưng mình. Dưới cửa sổ phòng tôi có cái sân trong sâu hun hút, nơi đó, ban ngày, những chiếc sơ mi, bị đóng đinh trên các dây phơi rực nắng, toả sáng xuyên qua các bụi tử đinh hương, và từ dưới ấy thỉnh thoảng lại vọng lên những tiếng sủa sầu muộn – giọng mấy người thu mua đồng nát ve chai; –  ứ-ứ, cây vỹ cầm tàn tật nức nở; và, có lần, một phụ nữ tóc vàng béo ú tới, đứng ngay giữa sân, hát hay đến nỗi các cô hầu, cúi cần cổ trần, nhoài cả người ra ngoài mọi cửa sổ, sau đó, khi chị ta ngưng hát, mọi thứ trở nên yên lặng khác thường; chỉ nghe tiếng bà chủ nhà tôi, một mụ goá lôi thôi, đang thổn thức hỉ mũi trong hành lang.

Giờ thì dưới ấy, màn sương u ám ngột ngạt đang trương lên, –  nhưng kìa, ngọn gió mù loà, vừa bơ vơ luồn xuống đáy sâu, lại bắt đầu rướn lên trời, – và đột nhiên – nó sáng mắt ra, lao vút lên và, trong những hố sâu màu hổ phách bên bức tường đen ngòm đối diện, những bóng tay và bóng tóc tất tả tới lui, bắt lại các khung cửa bay, sầm sập đóng chặt cửa sổ. Các cửa sổ vụt tắt. Và lập tức, trong màn đêm tím thẫm, một tràng âm thanh trầm đục, tiếng sấm xa, bắt đầu vỡ ra, lan rộng. Rồi mọi thứ lại lặng đi, như lúc chị hành khất ngừng hát, siết chặt tay lên bộ ngực đầy.

Tôi thiếp đi trong sự yên ả ấy, lử lả vì vui, một niềm vui mà tôi chẳng thể viết thành lời, – và giấc mơ tôi chan chứa bóng hình em.

Tôi bừng tỉnh vì đêm vỡ vụn. Ánh lấp lánh nhợt nhạt, cuồng dại bay ngang bầu trời, tựa chớp hồi quang của chiếc nan hoa vĩ đại. Hết tiếng sét này đến tiếng sét khác xé toạc bầu trời. Mưa rơi rào rạt nơi nơi.

Tôi say những rung động xanh nhờ ấy, cái lạnh nhẹ buốt ấy. Tôi bước lên bậu cửa sổ ướt đẫm, hít không khí siêu phàm, nó làm tim tôi ngân lên, như kính.

Càng lúc càng gần hơn, càng lúc càng kỳ vĩ hơn, cỗ mã xa của nhà tiên tri rền vang theo những áng mây. Ánh sáng của sự điên rồ, của những ảo cảnh nhức mắt, rọi tỏ cõi đêm, những mái dốc kim loại, những bụi tử đinh hương cuống cuồng chạy trốn. Thần sấm, một ông khổng lồ tóc bạc, với bộ râu bão táp bị gió vắt ngược qua vai, mặc bộ lễ phục phấp phới chói ngời, đứng, ngả người về phía sau, trong cỗ mã xa ngùn ngụt cháy của mình, gồng tay ghìm lũ chiến mã khổng lồ, lông đen huyền, bờm rực lửa tím. Chúng lao vùn vụt, chúng phì bọt lóng lánh đì đùng, cỗ mã xa nghiêng ngả, và nhà tiên tri bối rối ghì dây cương mà chẳng ăn thua. Gương mặt ông bị méo đi bởi gió và sự căng thẳng; cơn lốc, thổi tung các nếp lễ phục, lột trần đầu gối vạm vỡ, lũ chiến mã, tung bờm rực lửa, bay mỗi lúc mỗi hăng – thấp dần, thấp dần theo những áng mây. Và đây, với những tiếng sấm ầm ì, chúng tung vó qua một nóc nhà sáng bóng, cỗ mã xa liệng đi, Elijah loạng choạng, và lũ chiến mã, điên lên bởi đụng phải chất kim loại phàm trần, nhào ngược lên trời. Nhà tiên tri bị quăng ra ngoài. Một bánh xe văng đi. Từ cửa sổ nhà mình, tôi thấy cái vành khổng lồ rực lửa của nó lăn theo mái nhà, chệnh choạng tại bờ mái, và nhảy vào bóng tối lờ mờ. Còn lũ chiến mã, kéo lê theo chúng cỗ mã xa bị lật nhào, nảy tưng tưng, đã bay nhanh theo những áng mây cao ngất; tiếng rầm rầm tắt dần, và ngọn lửa giông lụi tàn trong những vực thẳm tím than.

Thần sấm, vừa rơi lên mái, nặng nề đứng dậy, đôi xăng đan của ông trượt đi; ông đạp chân vỡ cửa tò vò mái nhà, càu nhàu, khoát tay túm lấy ống khói. Chầm chậm quay gương mặt tối sầm lại, ông đưa mắt tìm kiếm thứ gì đó – hẳn là chiếc bánh xe vừa bung khỏi cái trục vàng. Sau đó ông ngước lên, các ngón tay túm chặt bộ râu rối, cáu kỉnh lắc đầu – chắc đây không phải lần đầu chuyện ấy xảy ra – và, hơi tập tễnh, bắt đầu thận trọng leo xuống dưới.

Rời cửa sổ, hấp tấp và hồi hộp, tôi khoác áo choàng và chạy xuống chiếc thang dốc dẫn thẳng đến sân trong. Cơn giông đã qua, nhưng trời còn lất phất mưa. Phương đông ửng màu xanh tái tuyệt đẹp.

Cái sân trong, nhìn từ trên cao thì như thể chìm trong bóng tối đặc quánh, thực ra ngập màn sương mỏng đang tan. Giữa sân, trên bãi cỏ thẫm màu vì ẩm ướt, một ông già gày guộc, lưng còng vai xo, mặc chiếc áo thụng đẫm nước mưa, đứng lẩm bẩm nói gì đó và nhìn quanh. Trông thấy tôi, ông giận dữ nháy mắt:

–  Là ngươi hả, Elisha?

Tôi cúi đầu. Nhà tiên tri chặc lưỡi, xoa xoa lòng bàn tay lên chỗ hói nâu nâu.

– Rớt đâu cái bánh. Tìm cho ta đi.

Mưa đã tạnh. Trên nóc nhà, những đám mây đồ sộ bừng bừng cháy. Xung quanh, trong không trung xanh mờ ngái ngủ, các bụi cây, hàng rào, cái cũi chó lấp lánh lững lờ trôi. Chúng tôi mò mẫm tìm rất lâu khắp các xó xỉnh.  Ông già luôn miệng càu nhàu, nâng gấu áo nặng trĩu, lội đôi xăng đan mòn vẹt lõm bõm qua các vũng nước mưa, và trên đầu cái mũi to, xương xẩu của ông treo một giọt nước lấp lánh. Gạt nhánh tử đinh hương thấp lè tè, tôi chợt để ý thấy, trên đống rác, giữa kính vỡ, một bánh sắt mỏng, chắc là từ cái xe nôi trẻ con nào đó, ông già thở phào nồng ấm ngay trên tai tôi và hấp tấp, thậm chí hơi thô bạo đẩy tôi qua bên, chộp cái vành han gỉ ấy nhấc lên. Ông nháy mắt vui vẻ bảo tôi:

–  Thì ra là lăn vào đây…

Rồi ông chằm chằm nhìn tôi, nhíu cặp mày bạc, – và như thể chợt nhớ ra điều gì đó, oai nghiêm nói:

–  Quay mặt đi nào, Elisha.

Tôi vâng lời. Thậm chí còn nheo mắt lại. Đứng như vậy được chừng một phút, – và không giữ được lâu hơn.

Sân vắng tanh. Chỉ có con chó già lông xù với cái mõm bạc màu thò đầu ra khỏi cũi và, giống như người, ngước đôi mắt nâu sẫm đầy vẻ sợ hãi nhìn lên. Tôi ngẩng đầu. Elijah đã leo lên mái nhà, chiếc vành sắt sáng lờ mờ sau lưng ông. Trên những ống khói đen, một ráng mây sừng sững hiện lên như rặng núi loăn xoăn vàng cam, và sau nó là ráng thứ hai, thứ ba. Tôi và con chó im bặt ấy đăm đắm dõi theo nhà tiên tri, vừa leo đến đỉnh nóc nhà, bình tĩnh và thong thả đặt chân lên mây và tiếp tục trèo lên trên, nặng nề bước theo ngọn lửa dịu êm.

Nắng rọi vào bánh xe của ông, nó lập tức biến thành chiếc vòng vàng khổng lồ, – và chính Elijah dường như lúc này cũng mặc bộ lễ phục lửa, hoà mình với những ráng mây thiên đường ấy, bước mỗi lúc mỗi cao hơn, cao hơn nữa, cho đến khi biến vào lũng trời rực cháy.

Chỉ đến lúc đó thì con chó già mới cất tiếng sủa khàn khàn ban mai, – và những gợn sóng lăn tăn trên bề mặt sáng chói của vũng nước mưa; làn gió hiu hiu lay động các cây phong lữ đỏ thắm trên ban công, đôi ba cửa sổ tỉnh giấc nồng, – và tôi chạy ra ngoài phố, chân đi đôi dép ngủ kẻ ô ướt sũng, người mặc chiếc áo choàng phai màu, bắt kịp chiếc tàu điện ngái ngủ đầu tiên, vừa chạy vừa khép vạt áo, và vừa cười hoài, vừa hình dung, chỉ lát nữa thôi là sẽ tới nhà em và kể em nghe về vụ tai nạn trời đêm ấy, về nhà tiên tri già cáu kỉnh ấy, vừa rơi xuống khoảng sân nhỏ của tôi.


26 November 2015

Mối Tình Đầu


Vladimir Nabokov 
Thiên Lương dịch

Tác phẩm đã đăng trên Tạp Chí Nhà Văn & Tác Phẩm, số 13. 




I

Vào những năm đầu thế kỷ này, một hãng du lịch trên đại lộ Nevski trưng bày một mô hình dài-ba-bộ của toa giường ngủ liên vận quốc tế màu nâu gỗ sồi. Với vẻ giống thật đầy tinh xảo, nó xịn hơn hẳn chiếc hộp thiếc sơn màu còn gọi là đoàn tàu chạy dây cót của tôi. Tiếc thay, nó không để bán. Ta có thể nhìn thấy vải nệm xanh lam bên trong, da bọc rập nổi của những tấm vách ngăn, các ô trám bóng loáng của chúng, những chiếc gương dát, những chiếc đèn đọc sách hình hoa tulip, cùng nhiều chi tiết phát rồ khác. Các cửa sổ rộng xen kẽ với những cái hẹp hơn, đơn chiếc hoặc thành cặp, và vài cái trong số chúng có gắn kính mờ. Trong mấy cu-pê, giường được dọn sẵn.

Đoàn tàu tốc hành Phương Bắc vĩ đại và đẹp mê hồn hồi ấy (nó chẳng bao giờ còn giống vậy nữa sau Đệ Nhất Thế Chiến), bao gồm toàn các toa liên vận quốc tế như thế và chạy hai lần mỗi tuần, nối St. Petersburg với Paris. Có lẽ tôi đã nói: trực tiếp với Paris, nếu như hành khách không bị bắt phải đổi từ đoàn tàu này qua đoàn tàu khác nhìn bề ngoài giống hệt tại biên giới Nga-Đức (Verzhbolovo-Eydtkuhnen), nơi khổ đường ray sáu-mươi-in-xơ-rưỡi lười biếng và rộng rãi của Nga được thay thế bằng chuẩn năm-mươi-sáu-in-xơ-rưỡi của châu Âu và than đá nối nghiệp những khúc gỗ bạch dương.

Trong tận sâu thẳm tâm trí, tôi nghĩ mình có thể lần ra được ít nhất năm chuyến du hành như vậy tới Paris, với Riviera hoặc Biarritz là đích đến cuối cùng. Vào năm 1909, cái năm mà giờ đây tôi lựa riêng ra, hai đứa em gái tôi bị bỏ lại nhà cùng những người bảo mẫu và các bà dì. Đeo găng tay và đội mũ du lịch, cha tôi ngồi đọc sách trong cu-pê mà ông chia sẻ với gia sư của chúng tôi. Em trai tôi và tôi bị tách khỏi họ bằng buồng vệ sinh. Mẹ tôi và người hầu gái của bà chiếm một cu-pê sát ngay cu-pê chúng tôi. Người thừa trong đoàn chúng tôi, đầy tớ của cha tôi, Osip (kẻ mà, một thập kỷ sau, những người Bôn-sê-vích ra vẻ mô phạm sẽ bắn, vì hắn chiếm đoạt những chiếc xe đạp của chúng tôi thay vì giao nộp chúng cho quốc gia), ở cùng một người lạ.

Vào tháng Tư năm ấy, Peary đến Bắc Cực. Vào tháng Năm, Chaliapin hát ở Paris. Vào tháng Sáu, do lo ngại bởi những lời đồn đại về các khinh khí cầu zeppelin mới và tốt hơn, Bộ Quốc Phòng Liên Bang Hoa Kỳ đã thông báo cho các phóng viên về kế hoạch xây dựng hạm đội trên không. Vào tháng Bảy, Blériot bay từ Calais đến Dover (với một vòng lượn nhỏ cộng thêm khi ông mất phương hướng). Giờ đã cuối tháng Tám. Những cây linh sam và những đầm lầy miền tây bắc nước Nga lướt ngang qua, và, vào hôm sau, nhường lối lại cho cây thạch nam và những vùng đất Đức héo cằn.

Trên chiếc bàn gấp, mẹ và tôi chơi trò đánh bài có tên là durachki. Mặc dù đang lúc thanh thiên bạch nhật, vậy mà các lá bài, chiếc ly, và trên mặt phẳng khác, những ổ khoá của một chiếc va li vẫn được phản chiếu lại trong cửa sổ. Xuyên qua rừng rậm và đồng hoang, trong những hẻm núi đột ngột, và lưng chừng những dã thự vùn vụt lướt ngang, các con bạc vô thể ấy cứ đều đều đặt những món cược lấp lánh đều đều.

Ne budet-li, tï ved’ ustal?” (“Thôi nhé, con mệt chưa?”) mẹ hỏi, sau đó lại suy nghĩ miên man lúc mẹ chầm chậm xào bài. Cửa cu-pê đang mở và tôi có thể nhìn thấy cửa sổ hành lang, nơi những sợi dây – sáu sợi dây đen mảnh – đang cố hết sức đi xiên lên, cố ngoi lên trời, bất chấp các đòn đánh chớp nhoáng giáng lên chúng bởi hết cột điện báo này đến cột điện báo khác; nhưng đúng lúc cả sáu sợi, trong một cú nhào phấn khích đầy vẻ đắc thắng đáng thương, sắp vươn lên tới trên cùng cửa sổ, thì một đòn đánh đặc biệt độc ác lại lôi chúng xuống, đến tận cái mức thấp nhất mà chúng từng nằm, và chúng lại phải bắt đầu mọi thứ lần nữa.

Khi, trong các chuyến du hành như thế này, đoàn tàu đã đổi nhịp chạy qua nước kiệu oai nghiêm với gần như toàn mặt tiền nhà và biển hiệu cửa hàng sượt ngang, lúc chúng tôi chạy xuyên qua một thành phố lớn nào đó của nước Đức, tôi thường cảm thấy một trạng thái phấn khích nhị nguyên, mà các nhà ga cuối không thể mang lại. Tôi nhìn thành phố với những chiếc xe điện như món đồ chơi, những cây đoan, cùng những bức tường gạch nhập vào buồng, chén tạc chén thù với các tấm gương, và rót ngập cửa sổ bên phía hành lang. Giao tiếp thân tình này giữa đoàn tàu với thành phố là một phần rung cảm. Phần khác là việc đặt mình vào vị trí một khách qua đường nào đó, kẻ, theo tôi hình dung, đang xao lòng như chính tôi sẽ bị xao lòng khi ngắm các toa tàu dài, lãng mạn, nâu vàng, cùng những tấm màn xếp nối liên hành lang đen như cánh dơi và các con chữ kim loại sáng ánh đồng trong nắng tà dương, thong thả vượt qua chiếc cầu sắt cắt ngang một đại lộ thông thường và sau đó uốn mình, cùng tất cả các cửa sổ thình lình rực cháy, lượn quanh khối nhà cuối cùng.

Có những nhược điểm của các giao hoà thị giác ấy. Toa ăn cửa-sổ-rộng, một khung cảnh gồm những chai nước khoáng nguyên sơ, những chiếc khăn ăn được gấp thành hình mũ tế, và những thanh sô-cô-la giả (vỏ của chúng – Cailler, Kohler, vân vân – bọc chỉ toàn gỗ mà thôi) sẽ được cảm nhận ngay lúc đầu như một thiên đường yên ả ở phía bên kia sự phối hợp của các hành lang xanh lam loạng choạng; nhưng khi bữa ăn sắp đến món tai hại sau cùng, ta lại chợt thấy toa tàu đương vừa liều lĩnh dấn mình, vừa rung lắc những người phục vụ và mọi thứ, vào một cảnh quan, còn trong lúc cảnh quan ấy tự nó chạy xuyên qua một hệ chuyển động phức tạp, thì ánh trăng ban ngày vẫn cứ bướng bỉnh sóng hàng cùng đĩa thức ăn của ta, thảo nguyên xa xa xòe rộng ra như chiếc quạt, những cái cây gần gần lướt trên những chiếc đu vô hình về phía tuyến đường, một làn ray song song bỗng tự kết liễu mình bằng chỗ hợp lưu, một bờ cỏ nhấp nhánh cứ dâng lên, dâng lên, dâng lên, cho đến khi cậu bé chứng kiến các tốc độ hỗn tạp ấy bị làm cho nôn mửa ra phần omelette aux confitures de fraises của mình.

Tuy nhiên, ban đêm là lúc Compagnie Internationale des Wagons-Lits et des Grands Express Européens sống xứng đáng với ma lực tên nó. Từ trên giường mình, dưới băng em trai (Nó có ngủ không? Nói chung nó có trên đó không?), trong căn buồng tranh tối tranh sáng, tôi ngắm nhìn sự vật, và các phần thuộc sự vật, và bóng tối, và các mảng tối thận trọng lượn quanh rồi biến vào hư không. Đồ gỗ khe khẽ kêu kẽo kẹt, ken két. Gần cánh cửa dẫn đến toilet, một bộ quần áo lờ mờ trên mắc và, trên cao hơn, tua rua của chiếc đèn ngủ vỏ kép màu lam đang đu đưa nhịp nhàng. Thật khó tương liên những tiếp cận lưỡng lự ấy, vẻ lén lút chùm mũ ấy, với sự gấp gáp bất cẩn của bóng đêm bên ngoài, mà tôi biết đang gấp gấp lao qua, vạch các vệt sáng, không thể giải đoán.

Tôi cố ép mình ngủ bằng hành động đơn giản là đồng nhất mình với người lái đầu máy. Một cảm giác hạnh phúc lơ mơ lan toả khắp các tĩnh mạch tôi ngay khi tôi đã sắp đặt mọi thứ đâu ra đấy – các hành khách vô ưu trong buồng họ đang tận hưởng chuyến đi mà tôi mang đến cho họ, hút thuốc, trao đổi những nụ cười ranh mãnh, gà gật, ngủ lơ mơ; các nhân viên phục vụ và đầu bếp và bảo vệ tàu (những người mà tôi phải đặt đâu đó) đang đánh chén trong toa ăn; còn chính tôi, đeo kính lái và lem luốc, chăm chú nhìn ra ngoài buồng máy về phía đường ray vuốt nhọn, về phía điểm ngọc đỏ hoặc ngọc lục bảo ở quãng đường đen kịt đằng xa. Và sau đó, trong giấc ngủ, tôi lại thấy thứ gì đấy khác hẳn – hòn bi ve lăn tròn dưới cây đại dương cầm hoặc chiếc đầu máy đồ chơi nằm nghiêng với những cái bánh vẫn chuyển động một cách can trường.

Sự thay đổi tốc độ tàu đôi khi ngắt mạch ngủ của tôi. Những ánh đèn chậm rãi oai vệ diễu qua; mỗi cái, lúc đi ngang, lại điều nghiên cũng vẫn khe hở ấy, sau đó, một chiếc com-pa sáng chói lại dò xét bóng tối. Chẳng mấy chốc, đoàn tàu dừng bánh cùng tiếng thở Westinghouse kéo dài. Có thứ gì đó (cặp kính của em trai tôi, như xác định vào hôm sau) rơi từ trên cao xuống. Thật vô cùng hứng thú khi mò xuống cuối giường, cùng phần chăn cuốn theo, để thận trọng tháo then cài màn cửa sổ, dẫu nó chỉ có thể trượt lên được nửa đường, do bị cản lại, trên thực tế, bởi cạnh giường trên.

Như các mặt trăng quanh sao Mộc, lũ bướm đêm nhợt nhạt quay mòng mòng quanh ngọn đèn cô đơn. Một tờ báo tả tơi lật quật trên chiếc ghế băng. Tại nơi nào đấy trên tàu, có thể nghe thấy những tiếng nói bị nghẹt lại, tiếng ho khoan khoái của ai đó. Chẳng có gì đặc biệt thú vị trên phần sân ga trước mặt tôi, vậy mà tôi vẫn không thể dứt mình ra khỏi nó cho đến khi nó tự nguyện rời đi.

Sáng hôm sau, những cánh đồng ẩm ướt với những cây liễu dị hình mọc dọc theo một con mương tỏa nan hoa hay một hàng dương xa xa, bị cắt ngang bởi dải chân trời mù sương trắng sữa, cho ta biết rằng đoàn tàu đang guồng bánh qua nước Bỉ. Nó đến Paris lúc bốn giờ chiều; và thậm chí nếu chỉ lưu lại qua đêm, tôi vẫn luôn có thời gian để mua thứ gì đó – chẳng hạn như một Tour Eiffel nhỏ bằng đồng thau, phủ ngoài khá đại khái bằng sơn bạc – trước khi chúng tôi lên tàu tốc hành Phương Nam lúc mười hai giờ trưa hôm sau, chuyến tàu này, trên đường đi Madrid, đưa chúng tôi, vào khoảng mười giờ đêm, đến ga La Négresse của Biarritz, cách biên giới Tây-Ban-Nha vài dặm.

II

Hồi ấy, Biarritz vẫn giữ được bản sắc riêng. Những lùm mâm xôi rậm rạp lầm bụi và các terrains à vendre cỏ mọc um tùm viền quanh con lộ dẫn đến biệt thự chúng tôi. Carlton vẫn còn đang được xây. Chừng ba mươi sáu năm phải trôi qua trước khi Thiếu Tướng Samuel McCroskey chiếm căn suite hạng hoàng gia của Hôtel du Palais, cái khách sạn nằm ở khoảng đất thuộc một cung điện xưa, nơi mà, vào những năm sáu mươi, người ta đồn rằng Daniel Home, ông đồng lanh lợi đến khó tin ấy, đã bị bắt quả tang đang vuốt ve bằng bàn chân trần của mình (để mô phỏng một bàn tay ma) gương mặt tử tế, nhẹ dạ cả tin của Nữ hoàng Eugénie. Trên lối đi dạo gần Sòng Bạc, một bà bán hoa luống tuổi, với cặp lông mày than chì và nụ cười tô lục chuốt hồng, nhanh nhẹn cài đế hoa cẩm chướng mũm mĩm vào khuyết áo một người tản bộ ngang qua, hàm trái ông ta làm nổi bật nếp gấp vương giả của nó lúc ông liếc xéo xuống cuộc gài hoa thẹn thùng ấy.

Dọc tuyến sau plage, đủ loại ghế bãi biển nâng đỡ bố mẹ lũ trẻ đội mũ rơm đang chơi đùa trên cát đằng trước. Có thể thấy tôi đang quỳ trên đầu gối mình và cố gắng làm cho chiếc lược nhặt được bốc cháy bằng một cái kính lúp. Những người đàn ông diện những chiếc quần soọc trắng mà với con mắt ngày nay chắc nhìn như thể chúng bị co rút lại một cách tức cười lúc giặt. Các quý bà mang, vào mùa đặc biệt ấy, áo choàng mỏng với ve áo mặt-lụa, mũ có chỏm lớn và vành rộng, mạng trắng thêu dày, áo cánh có diềm xếp nếp đằng trước, diềm xếp cổ tay, diềm xếp trên dù. Làn gió nhẹ làm môi ta mặn chát. Với tốc độ kinh hoàng, một con bướm lạc màu vàng cam bay vụt qua plage rung rinh.

Âm thanh và chuyển động đến thêm nữa từ những người bán rong cacahuètes, hoa violet quện đường, kem quả hồ trăn màu lục thiên đường, kẹo cao su, những mẩu phồng to của một thứ khô, sạn, tựa như bánh quế, đến từ một cái thùng đỏ. Với sự rõ nét mà không có chồng lấn nào sau này làm lu mờ nổi, tôi nhìn thấy người bán bánh quế ấy dậm bước tiến qua cát bột sâu, cùng cái thùng tô nô nặng trĩu trên tấm lưng còng. Khi được gọi, y sẽ tuột nó khỏi vai bằng một cú vặn cái dây đeo, ném phịch nó xuống cát theo tư thế tháp Pisa, lau mặt y bằng tay áo, và tiếp tục thao tác bằng tay một món đồ lắp ráp có mũi tên và vòng quay với những con số trên nắp thùng. Mũi tên kêu ken két và quay vu vu vòng quanh. Vận may sẽ ấn định kích thước chiếc bánh quế giá một xu. Bánh càng to thì tôi càng lấy làm tiếc cho y.

Quá trình tắm được tiến hành trên phần khác của bãi biển. Các tay bơi chuyên nghiệp, những người Bax-cơ vạm vỡ mặc đồ tắm đen, ở đó để giúp phụ nữ và trẻ em tận hưởng nỗi kinh sợ từ sóng nhào. Một baigneur như vậy sẽ đặt bạn quay lưng hướng về cơn sóng đang đến và giữ bạn bằng cách nắm tay bạn lúc ngọn sóng xanh lục vừa dâng lên, xoay khối bọt biển, vừa ập lên bạn từ phía sau, đánh văng đôi chân bạn bằng một cú quất mạnh mẽ. Sau cả tá cú ngã ấy, tay baigneur, bóng loáng như con hải cẩu, sẽ lại dẫn cái bổn phận phải trông nom, mũi khụt khịt ướt, thở hổn hển, run lẩy bẩy của gã về phía đất liền, tới bãi biển phẳng lì, nơi một bà già không thể quên được với những sợi râu bạc trên cằm đang mau mắn chọn áo choàng tắm từ vài cái treo trên dây phơi quần áo. Trong sự an toàn của một cabin nhỏ, ta sẽ được một nhân viên phục vụ khác nữa giúp lột bỏ bộ đồ tắm ướt đẫm, đặc cát. Nó sẽ rơi bộp xuống ván, và, người vẫn bóng loáng, ta sẽ bước ra khỏi nó, giẫm lên các vạch xanh xanh, khuyếch tán của nó. Cabin toả mùi thông. Người phục vụ, một bác gù với những nếp nhăn rạng rỡ, bưng đến một chậu nước nóng bốc hơi, mà ta sẽ ngâm chân vào. Tôi được bác ấy cho biết, và giữ mãi từ hồi ấy trong ngăn kính bộ nhớ tôi, rằng “bướm” trong tiếng Bax-cơ là misericoletea – hoặc chí ít thì nghe cũng có vẻ như vậy (trong số bảy từ mà tôi tìm thấy ở các cuốn từ điển thì từ gần nhất là micheletea)

III

Trên phần nâu hơn và ẩm hơn của bãi tắm, cái phần mà lúc thuỷ triều xuống thấp sẽ sinh ra thứ bùn tốt nhất cho các lâu đài, tôi thấy mình đang đào bới, một ngày nọ, vai kề vai với cô bé người Pháp tên là Colette.

Em sẽ lên mười vào tháng Mười một, tôi mới lên mười hồi tháng Tư. Sự chú ý đã bị hút đến mảnh vỏ trai lởm chởm màu tím mà em giẫm lên bằng gan bàn chân để trần của đôi chân thon ngón dài của mình. Không, tôi không phải người Anh. Cặp mắt em màu lục nhạt điểm những đốm sáng tràn ra từ các đốm tàn nhang bao phủ khuôn mặt sắc nét. Em mặc thứ trang phục mà hiện nay có thể gọi là “đồ bay”, gồm có áo thun xanh lam với tay áo xắn lên và quần soọc dệt kim xanh lam. Thoạt đầu, tôi cứ ngỡ em là con trai, và sau đó bị bối rối bởi chiếc vòng trên cổ tay mảnh mai và những lọn tóc nâu xoắn ốc đung đưa dưới chiếc mũ lính thuỷ của em.

Em nói líu lo hàng tràng như tiếng chim hót nhanh, pha tiếng Anh gia sư với tiếng Pháp Paris. Hai năm trước, cũng trên plage này, tôi từng rất quyến luyến với cô con gái nhỏ đáng yêu, rám nắng của một thầy thuốc người Xéc-Bi; nhưng khi gặp Colette, thì tôi biết ngay rằng đây mới là điều có thật. Với tôi, Colette dường như kỳ lạ hơn nhiều so với mọi bạn chơi tình cờ khác tại Biarritz! Không biết làm sao mà tôi có cảm giác là em ít hạnh phúc hơn tôi, ít được yêu thương hơn. Một vết thâm tím trên cẳng tay mảnh khảnh phủ đầy lông tơ của em gây ra nhiều phỏng đoán dễ sợ. “Nó véo đau y như mẹ,” em bảo, khi nói về một con cua. Tôi lập nhiều mưu kế khác nhau để cứu em khỏi bố mẹ, những kẻ “des bourgeois de Paris” như tôi nghe lỏm được ai đó kể cho mẹ tôi cùng một cái nhún vai thoáng qua. Tôi diễn dịch thái độ khinh bỉ đó theo cách riêng, do tôi biết là những người ấy đã đi suốt quãng đường từ Paris trong chiếc li-mô-sin xanh-và-vàng của họ (một chuyến phiêu lưu thời thượng hồi ấy) nhưng lại cho Colette đi, một cách buồn tẻ, cùng con chó và nữ gia sư của em, bằng chuyến tàu khách bình thường. Con chó ấy là một con phốc-te-ri-ê giống cái với những cái chuông trên vòng cổ và cái mông ve vẩy rất hăng. Do nỗi phấn chấn thuần khiết, nó liếm nước mặn trào ra từ chiếc xô đồ chơi của Collete. Tôi còn nhớ cánh buồm, buổi hoàng hôn, cùng ngọn hải đăng được vẽ trên chiếc xô ấy, nhưng tôi không thể nhớ lại tên con chó, và điều đó làm tôi day dứt không yên.

Trong thời gian hai tháng lưu lại Biarritz, đam mê tôi dành cho Colette gần như vượt qua đam mê tôi dành cho bướm. Do bố mẹ tôi không thích gặp bố mẹ em, nên tôi chỉ được thấy em trên bãi biển; nhưng tôi luôn nghĩ về em. Nếu nhận ra em vừa khóc, thì tôi thấy trong lòng cồn lên nỗi thống khổ bất lực đến nỗi nó làm lệ dâng đến mắt. Tôi không thể diệt bọn muỗi đã để lại các nốt đốt trên cần cổ mảnh mai của em, nhưng tôi có thể, và đã từng, đấm tay không thắng một thằng nhóc tóc đỏ vô lễ với em. Em hay cho tôi một vốc ấm đầy ắp kẹo cứng. Ngày nọ, trong lúc chúng tôi đang cùng nhau cúi xuống một con sao biển, và những lọn tóc quăn của Colette cù vào tai tôi, em bỗng quay về phía tôi và hôn tôi lên má. Tôi xúc động đến nỗi tất cả những gì tôi có thể nghĩ được để thốt lên lời là, “Đồ khỉ con.”

Tôi có một đồng vàng mà tôi định sẽ trả cho cuộc đào tẩu của hai đứa. Tôi muốn đưa em đi đâu nhỉ? Tây-Ban-Nha? Mỹ? Những ngọn núi trên Pau? “Là-bas, là-bas, dans la montagne,” như tôi từng nghe Carmen hát tại nhà hát opera. Một đêm kỳ lạ nọ, tôi nằm thức, lắng nghe tiếng biển ầm ì hết đợt này đến đợt khác và lên kế hoạch cho chuyến trốn chạy của hai đứa. Biển dường như dâng cao và dò dẫm trong bóng tối rồi nặng nề đổ sụp lên mặt nó.

Về cuộc đào thoát thật của chúng tôi, thì tôi chẳng có gì nhiều nhặn để thuật lại. Trí nhớ tôi chỉ còn giữ được loáng thoáng bóng em ngoan ngoãn xỏ chân vào đôi giày vải bạt đế cói, bên khuất gió của một chiếc lều đang bay phần phật, trong lúc tôi nhét cây vợt bắt bướm gấp được vào chiếc túi giấy màu nâu. Bóng hình tiếp theo về cảnh lẩn trốn sự truy đuổi bằng cách chui vào một rạp chiếu tối đen như hắc ín gần Sòng Bạc (dĩ nhiên thứ đó  hoàn toàn nằm ngoài giới hạn). Chúng tôi ngồi đấy, nằm tay nhau ngang qua con chó, nó thỉnh thoảng lại nhẹ nhàng lắc leng keng trong lòng Colette, và được cho xem một trận đấu bò giật giật, lất phất mưa, nhưng hết sức phấn khích tại San Sebastián. Bóng hình cuối cùng thuộc về chính tôi, đang bị gia sư của mình dẫn ra ngoài dọc theo lối đi dạo. Đôi chân dài của ông ấy chuyển động với vẻ gì đó hồ như sự nhanh nhẹn đáng ngại và tôi có thể thấy các cơ hàm của ông đang hoạt động dứt khoát dưới lớp da căng. Thằng em tôi, đeo kính, chín tuổi, mà ông tình cờ đang giữ bằng tay kia, cứ tìm cách chạy lon ton lên trước để ngó tôi với sự hiếu kỳ đầy nể sợ, như con cú nhỏ.

Trong số đồ lưu niệm lặt vặt kiếm được tại Biarritz trước khi rời đi, thứ tôi thích không phải chú bò nhỏ bằng đá đen và cũng không phải cái vỏ ốc biển kêu âm ư mà là món đồ với thời nay có vẻ gần như mang tính biểu tượng – một chiếc quản bút làm từ đá bọt biển với lỗ soi nhỏ xíu bằng pha lê ở phần trang trí. Ta giữ nó thật sát mắt này, nheo mắt kia lại, và khi ta gạt bỏ được ánh mờ của lông mi chính mình, thì có thể thấy bên trong nó một cảnh huyền diệu chụp vịnh và đường vách đá ngưng lại nơi ngọn hải đăng.

Và giờ đây, một điều thú vị tình cờ xảy ra. Quá trình tái tạo chiếc quản bút cùng thế giới vi mô trong lỗ ngắm của nó đã khuyến khích trí nhớ tôi đến với nỗ lực cuối cùng. Tôi gắng thêm lần nữa để nhớ lại tên con chó của Colette – và, một cách đắc thắng, dọc theo những bãi biển xa xôi ấy, trên cát chiều bóng loáng thời dĩ vãng, nơi từng dấu chân chậm chậm lấp đầy nước hoàng hôn, nó tới đây, nó tới đây, vang vọng và rúng động: Floss, Floss, Floss!

Colette đã quay về Paris lúc chúng tôi lưu lại đó một ngày trước khi tiếp tục hành trình về nhà mình. Và ở nơi đó, trong một công viên nâu vàng dưới bầu trời xanh lam lạnh lẽo, tôi được thấy em (tôi tin là theo dàn xếp giữa những người thầy thông thái của chúng tôi) lần cuối. Em mang một chiếc vòng với cái que ngắn để lái nó theo, mọi thứ quanh em đều hết sức chuẩn mực và thời thượng theo lối tenue-de-ville-pour-fillettes, hòa hợp cùng mùa thu và Paris. Em lấy từ gia sư mình và giúi vào tay em trai tôi món quà ly biệt, một hộp quả hạnh bọc đường, nghĩa là, tôi biết, cho chỉ mình tôi; ngay sau đó, em đi, vỗ vỗ chiếc vòng lấp lánh xuyên qua ánh sáng và bóng râm, quay quay quanh một đài phun nước nghẹt lá khô gần nơi tôi đứng. Những chiếc lá lẫn vào ký ức tôi cùng da giày và găng tay em, và nơi đó còn có, theo tôi nhớ, vài chi tiết ở trang phục em (có lẽ là dải ruy băng trên chiếc mũ Xcốt-len, hoặc hoa văn trên đôi tất) mà hồi ấy nhắc tôi nghĩ đến xoắn ốc cầu vồng trong hòn bi ve. Tôi dường như vẫn đương giữ dải ngũ sắc ấy, mà không biết đích xác phải nhét nó vào đâu, trong khi em cùng chiếc vòng của mình chạy quanh tôi càng lúc càng nhanh và cuối cùng thì tan biến giữa những chiếc bóng thon gầy được buông trên lối đi rải sỏi bởi các cung tròn đan nhau của hàng rào thấp lượn sóng.




24 November 2015

Một Góc Nhìn về Kinh Tế VN trong thế kỷ 20


Người Việt vốn âm tính, duy tình hơn duy lý, kiểu tư duy đó không hẳn đã hoàn toàn dở, tuy nhiên, trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, thì ai muốn sống còn và thành đạt, thì nên học cách tư duy biện chứng, dựa trên số liệu và các phương pháp phân tích khoa học. 

Có nhiều "ảo giác" vẫn luẩn quẩn trong tiềm thức người Việt, chẳng hạn như huyền thoại về một Sài Gòn Hòn Ngọc Viễn Đông, hay một miền Nam mà Lý Quang Diệu phải ao ước. Tuy nhiên, sự thực khác hẳn những gì người ta vẫn nghĩ. Singapore chưa bao giờ thua kém Sài Gòn, nếu như không muốn nói là luôn có GDP đầu người tối thiểu là gấp vài lần. Và, suốt những năm chiến tranh, GDP đầu người của miền Bắc VN thật ra cũng không thua miền Nam VN là bao, mặc cho các hỗ trợ kinh tế khổng lồ từ Mỹ cho miền Nam VN. 

Trên đây là đồ thị dữ liệu về GDP trên đầu người của một số quốc gia châu Á từ năm 1913 cho đến năm 1970. Điều thú vị trong báo cáo này là nó bao gồm cả GDP của miền Nam và miền Bắc VN. Có thể thấy điểm nổi bật là sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản, và một sự thật đáng buồn là cả Bắc và Nam Việt Nam lúc nào cũng nghèo đói như nhau và ở mức thấp nhất trong các nước châu Á được nói đến trong báo cáo. Suốt một thời gian dài từ 1940 đến 1970, kinh tế cả hai miền không phát triển trong khi Nhật Bản và Hàn Quốc cùng các quốc gia khác đều tăng trưởng tốc độ cao. Chiến tranh đã làm cho đất nước tụt hậu ít nhất là 50 năm, tuy nhiên, không thể phủ nhận sự thật là từ đầu thế kỷ 19, Việt Nam đã là quốc gia rất, rất nghèo.

Sau 75, đất nước còn rơi vào khủng hoảng trầm trọng do cấm vận, do mất hết viện trợ từ Mỹ, Nga, Trung Quốc, do các sai lầm trong điều hành kinh tế, và chỉ mới thật sự phát triển, và phát triển rất tốt, từ 5h sáng ngày 4/2/1994, sau khi Mỹ bỏ cấm vận. Nhưng đó là một câu chuyện khác! 

Nguồn: 

Economic Divergence in East Asia:
New Benchmark Estimates of Levels of Wages and GDP, 1913-1970
Jean-Pascal Bassino* and Pierre van der Eng**

17 September 2015

Dịch Giả

Bản dịch Lolita này thuộc sở hữu của dịch giả Thiên Lương.
Mọi trích dẫn từ bản dịch phải được ghi cùng tên dịch giả.



Các tác phẩm Nabokov đã được Thiên Lương dịch và xuất bản:

2014. Lolita (ANDI).
2014. Dấu hiệu và Biểu hiệu (Tuổi Trẻ Cuối Tuần).
2014. Cảnh đời một quái vật kép (Sông Hương).
2015. Chị em nhà Vane (Văn Nghệ Quân Đội).
2015. Mối Tình Đầu (Nhà Văn & Tác Phẩm).
2016. Cơn Giông (Sông Hương).

25 August 2015

Câu chuyện về người thừa kế di sản James Joyce

Biên soạn từ nhiều nguồn.

Vào đêm tất niên 2012, Twitter feed của trang web Ubu, nơi lưu dữ liệu của các nghệ sĩ tiên phong, đã đăng đường dẫn đến một bài báo trên tờ The Irish Times về việc hết hạn bản quyền ở châu Âu với các tác phẩm của James Joyce, nhà văn vĩ đại người gốc Ireland, tác giả kiệt tác Ulysses.

James Joyce

Đường dẫn đi cùng một thông điệp cộc lốc gửi tới cháu nội và cũng là người thừa kế duy nhất còn sống của Joyce: “Mẹ mày, Stephen Joyce bản quyền các tác phẩm của James Joyce tại EU chấm dứt giữa đêm nay”. Trong khi ngôn từ có thể cộc lốc một cách bất thường thì cảm xúc mà nó biểu lộ lại rất phổ biến.

Hành trình thành công sản của các tác phẩm chính của Joyce đã được tuyên truyền gần như khắp nơi, như thể nó là phiên bản sách về sự hủy diệt của một vì sao chết trong bộ phim Star Wars, với Stephen Joyce vào vai một tay Darth Vader trí thức nào đó bỗng nhiên không còn ở vị trí thở hồng hộc vào gáy những kẻ phiến loạn mê Joyce nữa.

Cuộc chiến bản quyền

Stephen Joyce, cháu nội của James Joyce (1882-1941), từ giữa những năm 1990 đã nắm quyền lực tối cao với một trong những di sản văn chương hiếu chiến và bế tắc nhất nhân loại (có lẽ chỉ có thể so bì với Paul, con trai của Louis Zukofsky, cho danh hiệu người thực hiện di chúc cứng rắn nhất thế giới văn chương).

Các học giả bị yêu cầu phải thanh toán các khoản phí bản quyền cắt cổ, và thường xuyên bị từ chối thẳng thừng quyền trích dẫn bất cứ thứ gì từ các tác phẩm của Joyce. Những toan tính sáng tạo các phóng tác theo Ulysses, Finnegans Wake, Dubliners, hay A portrait of the artist as a young man, hoặc những buổi đọc công cộng các cuốn sách này được điều đình với thái độ ngờ vực và thù địch.

Trong một bài báo năm 2006 trên tờ The NewYorker, D. T. Max đã xem xét mối quan hệ quá đỗi khó chịu giữa Stephen và những người hâm mộ Joyce. Max viết về việc Stephen, tại một hội nghị chuyên đề năm 1988 ở Venice nhân “ngày hội Bloom”, đã tuyên bố rằng ông ta đã “hủy mọi lá thư mà bà dì Lucia của ông ta [và cũng là cô con gái gây phiền muộn của James Joyce] viết cho ông và vợ ông” và rằng ông ta đã “làm điều tương tự với các bưu thiếp và điện tín gửi đến Lucia từ Samuel Beckett, người đã dan díu với bà hồi những năm 1920”.

Ulysses

Những người hâm mộ James Joyce tổ chức lễ hội mang tên Bloom, nhân vật chính trong Ulysses, vào ngày 16-6 hằng năm. Năm 2004, kế hoạch tổ chức đợt đọc sách nơi công cộng với các trích đoạn từ Ulysses để kỷ niệm 100 năm ngày hội Bloom ở Dublin đã bị hủy bỏ, sau khi Stephen hăm dọa chính quyền Ireland rằng họ vi phạm bản quyền di sản. Thèm muốn phá rối của Stephen thật lố bịch và dường như không bao giờ có thể được thỏa mãn.

Nhằm mục đích vinh danh đại văn hào, Thư viện Quốc gia Ireland mở một khu mới để trưng bày nhiều tư liệu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp James Joyce, bao gồm các chứng liệu, bản thảo, thư từ trao đổi giữa Joyce với người thân, bạn bè, nhà xuất bản, độc giả, vợ - kể cả những lá thư hoàn toàn riêng tư chứa đầy từ ngữ tục tĩu viết riêng cho vợ - và đặc biệt là, lần đầu tiên, bản thảo gốc của Ulysses được trưng bày.

Stephen đã cảnh cáo Thư viện Quốc gia Ireland rằng kế hoạch trưng bày bản thảo của ông nội là vi phạm bản quyền. (Thượng viện Ireland phải thông qua một điều luật bổ sung khẩn cấp để ngăn cản ông ta).

Sự phản kháng của Stephen đã làm cho Abbey Theatre phải hủy một buổi diễn vở Exiles của Joyce, và ông ta tuyên bố với Adam Harvey, một nghệ sĩ trình diễn đã thuộc lòng một phần Finnegans Wake với mong muốn thuật lại được chúng trên sân khấu, rằng anh ta “đã vi phạm” bản quyền di sản. Harvey sau này đã phát hiện ra rằng, theo luật Anh, Joyce chẳng có quyền dừng buổi biểu diễn của anh.

Cơ hội mới cho James Joyce

Người ta cho rằng các học giả chuyên nghiên cứu về Joyce sẽ bị ảnh hưởng nhiều hơn công chúng bởi những phô trương quyền lực thô bạo với di sản. Sam Slote, hiện đang dạy văn học Anh ở Trinity College Dublin, và cũng là một nhân vật xuất chúng trong lĩnh vực nghiên cứu về Joyce, chỉ ra rằng vẫn chưa rõ tình trạng của các ấn bản ra đời sau khi tác giả chết - chẳng hạn các bức thư và bản thảo, cũng như Stephen hero (một tiểu thuyết tự truyện dang dở mà Joyce sửa tận gốc như A Portrait) và Giacomo Joyce sẽ như thế nào.

Sean Latham, giáo sư tiếng Anh tại Đại học Tulsa, chủ bút “James Joyce tam cá nguyệt san”, cũng đồng quan điểm rằng đây là một cột mốc quan trọng, nhưng không báo hiệu “một thời kỳ phục hưng sôi nổi trong việc nghiên cứu Joyce. Chúng ta đã phục hưng việc này hàng thập kỷ rồi.

Sự thật là các tác phẩm chưa công bố - đáng kể nhất trong đó là các lá thư của Joyce - giờ đã hết bản quyền ở Mỹ, và dẫu sao thì cũng sẽ có những ảnh hưởng lớn đến tiểu sử ông ấy. Tôi đã biết rằng đang có vài dự án lên kế hoạch in ấn những lá thư này. Hiện nay chúng tôi đã có ba tập thư từ. Một dự án đã hoàn tất. Nhiều dự án đang triển khai.

Có những lá thư mà Stephen cương quyết từ chối công bố nên việc in ấn chúng sẽ thật sự quan trọng. Chúng ta sẽ có đủ loại chuyện mà cuối cùng chúng ta sẽ được phép kể về Joyce và cuộc đời ông ấy, những chuyện trước giờ chúng ta chưa thể kể”.

Ngay sau khi hết thời hạn bản quyền, các tác phẩm của James Joyce nhanh chóng xuất hiện với các ấn bản mới, các tuyển tập mới và các bản dịch mới. Sean nhắc đến các bản in mới của Finnegans Wake, Ulysses, A Portrait và Dubliners. Bản Ulysses tiếng ý sắp được in và Sam Slote đang chuẩn bị cho một phiên bản chú giải cặn kẽ về cuốn tiểu thuyết này.

Chắc chắn cũng có khá nhiều nhà xuất bản yếu kém và cơ hội sẽ lợi dụng tình trạng công hữu của các tác phẩm. Sam cho xem một bộ sưu tập đặc biệt gớm guốc - một hộp bọc giả da màu lục có nắp đậy, chứa vài tập sách nhỏ của Joyce cũng bọc da giả. Ulysses được in thành ba tập, và để cho các tập có kích thước bằng nhau, nhà sách đã chuyển chương dài nhất, Circe, vào một nơi khác hẳn trong cuốn sách.

Trong hộp còn chứa một thứ gì đó được gọi là “Tinh tuyển truyện ngắn”, mà hóa ra chính là Dubliners với các truyện ngắn được sắp xếp lại, một cách ngu ngốc, theo thứ tự bảng chữ cái. Chẳng có gì ngạc nhiên là Stephen Joyce đã trấn áp những thứ này một cách hung ác. “Tôi biết ít nhất là một người - Sam nói - đã mua hai cuốn này, một cuốn được ông ta giữ nguyên đai nguyên kiện do cho rằng chúng sẽ lên giá. Nhưng ta sẽ còn được thấy cả đống sách tương tự thế này”.

Sean Latham đồng ý rằng các ấn bản sách của Joyce sẽ không còn được quản lý chất lượng tốt như trước nữa, nhưng không cho rằng đó là một diễn biến tệ hại, và vạch ra rằng chẳng ai còn quan tâm mấy đến việc có rất nhiều ấn bản sách của Dicken và Shakespeare nữa.

Ngay Ulysses, kiệt tác quan trọng nhất của James Joyce, cuốn sách đứng đầu hàng loạt bảng xếp hạng các tiểu thuyết vĩ đại nhất của nhân loại, cũng có một lịch sử xuất bản lạ lùng. Ấn bản đầu tiên của nó xuất hiện vào năm 1922 tại Paris hiển nhiên là có cực nhiều sai sót, đó là điều không cần phải bàn cãi. Trước đấy, khi còn được đăng từng kỳ trên The Little Review, nhiều phiên bản của tác phẩm đã phải qua nhiều tay và tùy vào sở thích, ý đồ riêng của biên tập viên mà tác phẩm bị cắt xén, bị giản lược, hoặc sửa.

Trong thời gian này, Joyce tiếp tục biên tập, thêm thắt nhiều chi tiết khác vào tác phẩm. Do đó, giữa các văn bản có sự khác biệt đáng kể. Chính Joyce lúc còn sống cũng không khẳng định phiên bản nào đúng. Hậu quả là không có ấn bản nào được xem là thật sự hoàn hảo, khiến cho tác phẩm mãi là đề tài tranh cãi bất tận giữa các học giả.

Mặc dù vô cùng khó đọc, dài khoảng 265.000 từ và sử dụng từ vựng tới 30.300 từ, Ulysses vẫn được đánh giá rất cao. Năm 1998, một hội đồng tuyển chọn gồm 10 người - đa số là người Mỹ - của New York Modern Library, một nhà xuất bản thuộc Random House, đã cùng nhau chọn danh sách 100 tác phẩm viết bằng tiếng Anh có giá trị nhất của thế kỷ 20.

Joyce có hai tác phẩm được chọn: Ulysses đứng đầu bảng và A portrait of the artist as a young man hạng ba. The great Gatsby của Scott Fitzgerald hạng nhì và Lolita của Vladimir Nabokov đứng thứ tư. Quả thật, thứ tự xếp hạng các kiệt tác này có thay đổi trong những lần bình chọn khác nhau của các nhóm độc giả khác nhau, nhưng các tác phẩm của James Joyce luôn đứng ở vị trí đầu tiên.

Chính sự phức tạp liên quan đến bản thân nội dung Ulysses cũng như các phiên bản của nó phần nào làm cho việc Stephen hết sức cứng rắn khi điều đình về bản quyền di sản, càng khiến giới học thuật và những người hâm mộ James Joyce bất mãn với người thừa kế này.

Dẫu sao chăng nữa, việc chấm dứt thời hạn bảo vệ bản quyền các tác phẩm của James Joyce đã giúp cho cả các tác phẩm phái sinh rộng đường đến với công chúng, sẽ có nhiều người biết đến các kiệt tác của ông hơn, và đó cũng là sự tôn vinh cao quý nhất với một trong những nhà văn bậc thầy của nhân loại.  

Bài đã đăng trên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần

10 August 2015

Thông tin sai lệch – Mảnh đất màu cho thuyết âm mưu



Vụ thảm sát 6 người ở Bình Phước vừa qua đã gây nên sự căm phẫn và nỗi kinh hãi đến tột cùng trong dư luận, và việc phá án mau lẹ của các cơ quan công quyền phần nào làm yên lòng dân và đem lại niềm tin vào công lý và lẽ phải ở đời. Tuy nhiên, vẫn có không ít lời xì xầm, nhất là trên facebook, về điểm này điểm nọ liên quan đến vụ án. 

Thực ra thì bản chất sự hoài nghi ấy không có gì mới. Trên thế giới, nhất là ở Mỹ, luôn có những người theo thuyết âm mưu (tiếng Anh: conspiracy theory). Những người này luôn tìm cách lý giải các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội theo hướng gán cho chúng những âm mưu bí mật của các thế lực ngầm khủng khiếp nào đó đằng sau.

Giả thuyết của họ luôn đi ngược lại các giải thích chính thống, và nó luôn nhằm đến việc buộc tội một nhóm người hay một tổ chức, hay một yếu tố siêu nhiên nào đó gây nên hay đứng đằng sau một sự kiện hoặc một hiện tượng gây ảnh hưởng lớn đến kinh tế chính trị xã hội. Các hiện tượng đó có thể đơn giản là một vụ giết người thảm khốc, một vụ khủng bố dã man, một hiện tượng thiên nhiên kỳ lạ, thậm chí là những “bí mật” hết sức hoang đường nào đó, chẳng hạn như người ngoài hành tinh đang làm việc cho các cơ quan chính phủ Mỹ.

Thuyết âm mưu khá được ưa thích, ngoài lý do người dân luôn hoài nghi vào những thứ họ không hiểu rõ, còn vì sự hấp dẫn ly kỳ của nó. Một trong các tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng có liên quan đến thuyết âm mưu là Fahrenheit 9/11 – bộ phim giành giải cành cọ vàng ở Cannes của đạo diễn Michael Moore. Bằng cách khéo léo sử dụng các tin tức chọn lọc, bộ phim này đã đưa ra những giả thuyết của riêng mình về Tổng thống Bush cùng những kẻ thực sự đứng sau vụ khủng bố 11.9. Đương nhiên là giả thuyết này khác xa với những gì chính quyền Mỹ vẫn công bố.

Ngoài ra, bất chấp các bằng chứng khoa học hiển nhiên, người ta vẫn không thôi nghi ngờ vào những sự kiện như cuộc đổ bộ đầu tiên lên Mặt Trăng của người Mỹ, vụ ám sát tổng thống Kennedy, và đủ thứ ầm ĩ khác.

Người ta vẫn chưa thể lý giải nguyên nhân tại sao có nhiều người thực tâm tin vào các thuyết âm mưu, và phủ nhận tất cả các bằng chứng khoa học và pháp lý khác. Một số học giả cho rằng do con người sẵn có niềm tin từ thời thượng cổ vào sự tồn tại của các thế lực hắc ám trong tự nhiên, những học giả khác lại cho rằng nhiều người muốn tìm cách giải thích các sự kiện, hiện tượng quan trọng bằng những nguyên nhân quan trọng, chẳng hạn họ không bao giờ chịu tin rằng một thứ gì đó khổng lồ và khó hiểu như đám mây lại đơn giản chỉ do nước bốc hơi lên trời mà thôi. Nói chung, họ cần một lý do nào đó đủ kinh khủng để lý giải cho một sự kiện họ cho là hết sức kinh khủng.

Sự thiếu vắng lòng tin cũng là một nguyên nhân quan trọng đưa đến các thuyết âm mưu. Người dân nghèo, ít học, bị loại ra khỏi cuộc chơi, ở các tầng lớp thấp trong xã hội rất dễ là nạn nhân của các thuyết âm mưu, và họ chính là những kẻ tin một cách thành thực nhất vào các giả thuyết hoang đường nhất. Những người có học thức cao, thu nhập cao, ở giới trung lưu và cao hơn thường ít khi tin vào các thuyết âm mưu, do họ được thông tin tốt hơn và đa chiều hơn, họ hòa nhập cùng hệ thống chính trị và kinh tế, họ có thái độ tích cực hơn với xã hội, và họ có xu hướng tin vào các thông tin chính thống mà họ nhận được. Điều đó cũng dễ hiểu, vì càng ở trên cao thì người ta càng có tầm nhìn bao quát hơn.

Một trong những ví dụ đơn giản là bàn làm việc tiếp dân của các cơ quan. Những nơi để cửa kính thấp, cho khách thấy rõ hồ sơ được xử lý thế nào trên bàn, thường mang lại cảm giác yên tâm hơn cho người dân.

Quay trở lại vụ thảm sát Bình Phước, có thể thấy rằng sự kiện khủng khiếp này được gieo lên mảnh đất đầy những hoài nghi ngay từ đầu. Do chạy đua theo thông tin, nhằm câu độc giả, một số tờ báo đã đưa tin vội vã, và do đó có rất nhiều tin trái ngược lẫn nhau, không từ những nguồn tin cậy, thậm chí là bịa đặt, làm cho độc giả vô cùng hoang mang, không biết đâu là thật, là giả. Có thể nói rằng chính những thông tin sai lệch và không được đính chính này đã gợi lên các giả thuyết âm mưu trong một bộ phận dư luận.

Thực tế thì không thể tiêu diệt thuyết âm mưu, nó là một phần của văn hóa. Dù xã hội có văn minh đến đâu thì bất cứ sự kiện lớn nào vẫn sẽ là mảnh đất cho các cây âm mưu lớn mọc lên. Tuy nhiên, để cho các giả thuyết hoang đường ấy chỉ khu trú trong một bộ phận dân cư nhất định, và không bị kẻ xấu lợi dụng, kích động người dân thì cần khá nhiều việc để làm, từ nâng cao văn hóa và trách nhiệm của phóng viên, cho đến sự minh bạch của các cơ quan quản lý nhà nước. Người dân sẽ tin tưởng hơn vào thông tin chính thống khi họ nghĩ rằng họ được biết, được bàn, được làm và được kiểm tra.

http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/thong-tin-sai-lech-manh-dat-mau-cho-thuyet-am-muu-585372.html

15 July 2015

Mất chủ quyền quốc gia trên mạng

Từ Phong

Hàng chục triệu người Việt Nam đang tự nguyện hiến dâng hầu hết thông tin cá nhân của mình cho các mạng xã hội. Điều này tạo ra những nguy cơ lớn về an ninh, về chủ quyền quốc gia. Đã đến lúc phải thay đổi.



Theo Facebook, hiện nay họ có 30 triệu người dùng tại Việt Nam (trong đó 27 triệu người dùng trên thiết bị di động).

Tính đến tháng 1.2015, lượng người Việt dùng Facebook mỗi ngày đã tăng 43% so với cùng kì năm ngoái. Về độ tuổi người dùng, có đến 3/4 người Việt dùng Facebook từ 18 - 34 tuổi. Ngoài ra, người Việt hiện dành khoảng 2 tiếng rưỡi mỗi ngày cho Facebook, gấp đôi thời gian dành để xem ti vi.

Ảnh hưởng của Facebook: từ lượng thành chất

Những con số thống kê này cho thấy ảnh hưởng ngày càng kinh khủng của Facebook nói riêng và các mạng xã hội nói chung lên cuộc sống người Việt hiện nay. Chúng ta đang bỏ những nguồn lực khổng lồ của cả dân tộc vào các hệ thống công nghệ của nước ngoài, và đóng góp đáng kể cho sự thành công của những tập đoàn trị giá hàng trăm tỉ đô la Mỹ.

Không phủ nhận những mặt tích cực của mạng xã hội lên đời sống từng cá nhân và cả xã hội, nhờ có nó mà chúng ta có thể giữ được quan hệ với bạn bè, tìm kiếm các mối quan hệ mới, gặp lại những người cũ, dù chỉ trên không gian ảo. Và cũng nhờ nó mà nhiều vấn đề đã được khơi lên trong cộng đồng để rồi tạo sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, chẳng hạn như chất lượng các bản dịch văn học tại Việt Nam. Sau khi cư dân Facebook lên tiếng về các thảm họa dịch thuật, thì giới chuyên môn và các nhà sách đã phải cẩn trọng hơn, phải thu hồi và sửa chữa các bản dịch lỗi.

Tuy nhiên, những mặt trái của mạng xã hội cũng làm chúng ta phải e ngại. Mới đây, một cô gái trẻ đã tự tử do không chịu nổi những lời đàm tiếu trên Facebook sau khi bị người yêu tung đoạn video quay cảnh nhạy cảm giữa hai người lên mạng. Một nhà khoa học đã phải mất nhiều ngày giải thích về bằng tiến sỹ khoa học của mình trước những tấn công vu cáo ông.

Những bài viết tràn ngập trên mạng hằng ngày đả kích các lãnh đạo đất nước, phỉ báng vĩ nhân, thậm chí là kích động hằn thù dân tộc. Rất nhiều thông tin không thể kiểm chứng và từ những nguồn không tin cậy đã làm cho thành viên Facebook hoang mang và nhiều khi dẫn đến các phản ứng tập thể mù quáng, mà những trường hợp điển hình nhất gần đây thuộc về dự án sân bay Long Thành, thay cây xanh và thiết kế đường tàu trên cao tại Hà Nội. Bất chấp các ý kiến chuyên gia và quan điểm của những người có trách nhiệm, vẫn có một phần đám đông trên Facebook không thôi hoài nghi về tính hợp lý cùng những mặt tích cực của các dự án này.

Sự tự do gần như tuyệt đối cùng tính vô danh tương đối của xã hội Facebook đã tạo ra sự bình đẳng giả tạo về mặt thông tin. Người ta không còn phân biệt được sự khác nhau giữa các ý kiến chuyên môn của một giáo sư toán với một cậu sinh viên, giữa một chuyên gia danh tiếng trong ngành hàng không với một kỹ sư nông nghiệp về hưu nào đó.

Chứng nghiện Facebook

Theo kết quả một thăm dò ý kiến trên một tờ báo lớn, có đến 47,9% người tham gia cho rằng “người dùng đã chia sẻ quá nhiều thứ không cần thiết trên Facebook”, 34,5% cho rằng “người dùng lãng phí thời gian trên Facebook”. Tại sao rất nhiều người bỏ thời gian quý báu của mình cho Facebook, mặc dù chính họ cũng phải công nhận rằng tuyệt đại đa số thời gian ấy là vô nghĩa, hoặc chí ít thì cũng không đem lại lợi ích vật chất hay tinh thần nào nhiều hơn so với khi họ dành chúng cho đời thực?

Câu trả lời có thể tìm thấy qua bản chất của chiến lược kinh doanh mà các chuyên gia gọi là tiếp thị Skinner, lấy theo tên nhà khoa học nổi tiếng trong ngành tâm lý học hành vi. Trong thí nghiệm của mình, Burrhus Frederic Skinner đã cho một con chuột vào chiếc lồng có một cái đĩa không, một cần gạt, bóng đèn và loa; mỗi khi loa phát âm thanh hay bóng đèn bật sáng, thì chuột có thể nhận được thức ăn trên đĩa nếu nhấn vào cần gạt. Thực tế cho thấy chuột học được ngay cách gạt cần để nhận thức ăn theo các tín hiệu âm thanh và ánh sáng của chủ.


Hầu hết các mạng xã hội thành công đều xây dựng đế chế của mình dựa theo phát hiện này của Skinner: các icon trên Facebook sẽ đổi màu, nhấp nháy, máy tính sẽ phát tín hiệu âm thanh quen thuộc khi có tin nhắn mới, khi có feed mới, khi có email mới, khi có tin tức mới; và khi người dùng mở trang web lên sẽ nhận được “phần thưởng”, dù cho họ có thích hay không cái gọi là “phần thưởng” ấy. Đó cũng là nguyên nhân làm cho các cô bé cập nhật ảnh mới liên tục, các cậu bé ngồi lì hàng ngày trên Facebook, các ông già về hưu viết hàng chục status hằng ngày để nhận được like của những người xa lạ. Không khó hình dung sự liên hệ giữa các dụng cụ thí nghiệm với các công cụ trên trang web của Facebook.

Sau một thời gian nhất định gia nhập vào cộng đồng mạng, con người bị rơi vào ảo giác rằng họ sẽ phải thường xuyên mở trang web lên nếu không muốn bỏ lỡ điều gì đó, và thời gian họ dành cho mạng xã hội ngày càng tăng, tới mức họ không còn phân biệt được cuộc sống thật và ảo nữa. Có những người có 5.000 bạn trên Facebook và hàng chục ngàn follower (người theo dõi), nhưng đám tang họ thì lạnh lẽo ở quê với vài ba bạn học từ thời thơ ấu, khi chưa ai biết máy tính cá nhân là gì.
Nói cách khác, ngày nay máy tính đã là chiếc lồng Skinner hiện đại, và mạng xã hội, trên phương diện nào đó, là một nhà máy khổng lồ với hàng tỉ chiếc lồng như thế.

Có phải Facebook được chào đón ở mọi nơi?

Thực ra Facebook không hiền lành vô tội như nụ cười của ông chủ tỷ phú của nó. Không ngẫu nhiên mà một số quốc gia cấm sử dụng mạng xã hội nước ngoài. Việc người dùng dành quá nhiều thời gian cho mạng, lưu trữ quá nhiều thông tin cá nhân trên mạng, và thậm chí trao đổi các thông tin nhạy cảm trên mạng, có thể làm cho ông chủ của kho dữ liệu khổng lồ ấy có được quyền lực khổng lồ với đời sống hàng tỉ công dân nước khác.

Ngày nay, việc mất quyền kiểm soát với dữ liệu cá nhân của công dân cũng là mất một phần chủ quyền quốc gia. Có thể nói rằng, phần lớn người dân hiện nay sợ mất kết nối với Facebook và Google còn hơn là mất nước, mất điện, kẹt xe hay thiếu thức ăn. Kết nối với internet đã trở thành nhu cầu cơ bản nhất, thấp nhất, và cũng là quan trọng nhất của tháp nhu cầu Maslow.



EU gần đây liên tục lên tiếng yêu cầu các mạng xã hội phải đảm bảo tính riêng tư của người sử dụng, phải cho phép họ xóa vĩnh viễn các dữ liệu cá nhân. Điều nguy hiểm hơn nữa là, thông qua việc sử dụng các cookie, Facebook theo dõi các hoạt động duyệt web của người dùng ngay cả khi họ không có tài khoản Facebook, hay đã hủy tài khoản, đăng xuất ra khỏi trang hoặc tắt chức năng quảng cáo trực tuyến. Điều này vi phạm luật pháp EU. Người dùng bị Facebook theo dõi khi họ sử dụng nút "like" được đặt trên hơn hàng triệu trang web bao gồm cả các trang của chính quyền và ngành y.

Những quan ngại của EU không phải là cá biệt. Các nhà chính trị đã thấy rằng rất nhiều điều luật cần phải sửa đổi để phù hợp với phát triển vũ bão của công nghệ. Và đã có nhiều chuyên gia cảnh báo về viễn cảnh khủng khiếp - khi thế giới bị hủy diệt bởi một hệ thống mạng xã hội biết tự tiến hóa và vượt ra khỏi tầm kiểm soát của chính con người, như trong phim Terminator Genysis. Mặc dù hiện nay chuyện đó chỉ có thể xảy ra trong các tác phẩm khoa học viễn tưởng, nhưng thực ra cũng mới chỉ chừng 10 năm trước đây, không ai trong chúng ta có thể hình dung về việc con người sẽ tiêu tốn hầu hết thời gian của mình trên mạng, và lưu trữ hầu hết cuộc đời mình trên mạng như hiện nay. Vậy nên, rất nhiều thứ khó tưởng tượng nổi cũng có thể đến trong vòng 10 năm tới.

Hành động nào của chúng ta?

Có lẽ đã quá muộn để bàn về một mạng xã hội của riêng Việt Nam. Vả lại, trình độ công nghệ cũng chưa bao giờ cho phép chúng ta làm được điều ấy. Việc xử lý khối lượng thông tin khổng lồ trong thời gian thực đòi hỏi những công nghệ phức tạp hơn rất nhiều so với chúng ta hình dung qua gương mặt hiền lành và đơn sơ của Google hoặc Facebook.

Tuy nhiên, nếu cứ phát triển nhanh như hiện nay, thì rất có thể sẽ đến lúc có cả trăm triệu người Việt dành trung bình mỗi ngày 8 tiếng để vào Facebook. Và viễn cảnh ấy thực sự đáng lo ngại. Để người dân không lãng phí thời gian của mình trên mạng vào việc đào bới thông tin làm giàu cho các ông chủ bên kia bờ đại dương, và không bị kích động định kỳ theo tâm lý đám đông bằng những hình ảnh cực đoan trên mạng, có lẽ cần đến những thay đổi căn bản về luật và cách tiếp cận vấn đề.

Nếu chỉ nghĩ đến việc kiểm soát các tài khoản Facebook cá nhân và nghiêm trị các hành vi phạm pháp trên mạng thì rất khó giải quyết vấn đề. Bởi lẽ kẻ nắm quyền sinh sát với hàng triệu tài khoản Facebook Việt Nam lại không chịu kiểm soát của pháp luật Việt Nam. Và do mạng xã hội không có biên giới, cho nên rất khó có cơ sở pháp lý để xử lý những tài khoản mạng mặc dù được viết bằng tiếng Việt và chỉ hướng đến khách hàng người Việt, nhưng lại được đăng ký và sử dụng hoàn toàn ở nước ngoài. Về lâu dài thì không thể kiểm soát những thứ mà chúng ta hoàn toàn không có quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu.

Có lẽ chúng ta nên tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác, và tìm ra mô hình hợp tác hai bên cùng có lợi với các mạng xã hội. Và nên yêu cầu họ, ngoài việc kiếm lợi cho mình, phải có những hợp tác tích cực về mặt an ninh thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, và kiểm soát các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam trên hệ thống của họ. Chủ quyền trên không gian mạng không còn là chuyện gì đó xa xôi, huyễn tưởng nữa, mà đã là yêu cầu cấp thiết, trước khi quá trễ. Vì có lẽ chúng ta sẽ chẳng có cơ hội cử ai đó quay lại quá khứ để thay đổi cái ngày mà mạng xã hội được cho phép hoạt động tự do tại Việt Nam.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên: 
http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/mat-chu-quyen-quoc-gia-tren-mang-583558.html

25 June 2015

Chị em nhà Vane

Chị em nhà Vane



Vladimir Nabokov
Thiên Lương dịch

Bản dịch đã đăng trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội số 823
Bản quyền bản dịch thuộc về dịch giả.

I

Có lẽ tôi không bao giờ được biết về cái chết của Cynthia, nếu tôi, đêm ấy, không đụng mặt D., người mà tôi cũng đã mất dấu trong khoảng bốn năm gần đây; và có lẽ tôi không bao giờ đụng mặt D. nếu tôi không bị cuốn vào một chuỗi điều nghiên tầm phào.

Hôm ấy, Chủ Nhật ăn năn sau cả tuần bão tuyết, là một ngày nửa ngọc, nửa bùn. Giữa cuộc đi dạo chiều chiều qua sơn trấn nhỏ gắn liền với trường cao đẳng nữ sinh nơi tôi dạy văn học Pháp, tôi đã dừng chân ngắm họ nhà băng nhũ sáng chói nhỏ nước giọt giọt từ mái chìa của ngôi nhà khung gỗ. Hình bóng nhọn đầu của chúng mới rõ nét làm sao trên các tấm ván trắng phía sau, đến nỗi tôi đã chắc chắn rằng bóng những giọt rơi cũng hữu hình. Nhưng không thấy chúng đâu. Có lẽ do mái nhà nhô ra quá xa, hoặc góc nhìn không đúng, hoặc, lần nữa, tôi lại không thể nhìn đúng cột băng nhũ thích hợp khi giọt nước thích hợp rơi xuống. Có một nhịp điệu, một sự luân phiên trong việc nhỏ giọt làm tôi thấy bị chọc tức như trò ảo thuật với đồng xu. Điều ấy dẫn tôi đi xem xét kỹ lưỡng các góc cạnh của vài khối nhà, và đưa tôi đến Kelly Road, ngay ngôi nhà nơi D. từng sống khi anh ta làm trợ giảng ở đây. Và trong khi tôi nhìn lên mái chìa của ga-ra sát ngay đấy với sự phô bày trọn vẹn các thạch nhũ trong suốt được lót phông nền bằng hình bóng xanh lam của chúng, cuối cùng tôi cũng được ban thưởng, lúc chọn một cây, bởi việc nhìn thấy cái có thể được miêu tả như dấu chấm của dấu than đang rời vị trí thông thường của mình để tuột xuống rất nhanh — nhanh hơn đôi chút so với giọt băng tan mà nó đua cùng. Nhấp nháy kép ấy thật thú vị nhưng không làm thoả mãn trọn vẹn; hoặc đúng hơn, nó chỉ làm sâu sắc thêm nỗi thèm muốn của tôi với những miếng sáng và tối ngon lành khác, rồi tôi nhập vào trạng thái nhận thức nguyên sơ, một trạng thái dường như biến toàn bộ bản thể tôi thành một nhãn cầu lớn đảo trong hốc đời.

Qua hàng mi đuôi công, tôi nhìn thấy ánh tà dương phản chiếu lóng lánh chói mắt tựa kim cương trên mui cong của chiếc ô tô đang đậu. Vạn vật được hoàn trả cảm quan hình ảnh sống động bởi sự tẩy rửa của tuyết tan trong tiết trời ấm áp. Nước tràn lên nhau lớp này lớp khác như những tràng hoa chảy xuống con phố dốc và yêu kiều chuyển hướng qua phố khác. Với một âm hưởng quyến rũ giả tạo vô cùng mong manh, lối đi hẹp giữa các tòa nhà để lộ ra kho báu của gạch và màu đỏ tía. Lần đầu tiên tôi để ý thấy các máng sáo khiêm nhường — tiếng vọng cuối cùng của đường xoi trên thân cột — trang trí cho thùng rác, và tôi cũng nhìn thấy gợn sóng trên nắp nó — các đường tròn tỏa rộng từ một trung tâm cổ xưa đến phi thường. Những hình dáng dựng đứng, đầu-đen của các đống xác tuyết (bị lưỡi hái xe ủi bỏ lại từ thứ Sáu vừa qua) được sắp thành hàng, như những con chim cánh cụt mới phôi thai, dọc theo lề đường, ngay trên dòng chảy dào dạt lấp lánh của các rãnh nước sống động.

Tôi đi lên, tôi đi xuống, tôi đi thẳng về phía bầu trời đang êm đềm tắt nắng, cuối cùng thì chuỗi sự vật được quan sát và đang quan sát đã đưa tôi, vào giờ ăn thường lệ, đến con phố cách xa nơi tôi vẫn thường dùng bữa đến nỗi tôi quyết định thử một nhà hàng nằm ngay vùng ven thị trấn. Màn đêm đã buông xuống không tiếng động mà cũng chẳng cần nghi lễ nào khi tôi lại bước ra ngoài. Con ma gầy nhẳng, chiếc bóng giãn dài mà trụ phí đậu xe buông xuống mặt tuyết ẩm thấp nào đó, nhuốm màu hung hung là lạ; tôi phát hiện ra điều này nhờ ánh sáng nâu đỏ của biển hiệu nhà hàng treo phía trên vỉa hè; và đúng lúc ấy — khi tôi tha thẩn nơi đó, phần nào mệt mỏi tự hỏi liệu trên đường cuốc bộ quay về tôi có thể đủ may mắn để tìm thấy cũng bóng ma ấy trong ánh xanh neon hay không — đúng lúc ấy thì một chiếc ô tô lạo xạo dừng bánh ngay gần tôi, và D. vừa bước ra ngoài vừa thốt lên một thán từ giả bộ vui mừng.

Anh đang đi, trên đường từ Albany đến Boston, qua thị trấn mà trước đây anh đã từng cư ngụ, và đây không phải lần đầu tiên trong đời mình, tôi cảm thấy cú đâm dị cảm ấy, cú đâm mà tiếp theo sau là một cơn bực tức cá nhân phản kháng những lữ khách, những kẻ dường như hoàn toàn chẳng cảm thấy gì khi thăm lại các nơi chốn lẽ ra phải làm họ xao xuyến tại từng bước chân bằng những ký ức than van và quằn quại. Anh dẫn tôi quay lại cái quán mà tôi vừa mới rời đi, và sau cuộc trao đổi thường lệ toàn những lời vô vị vui vẻ thì đến khoảng trống không thể tránh được mà anh lấp đầy bằng những lời tình cờ: “À này, tôi chưa bao giờ nghĩ tim Cynthia Vane có vấn đề gì cả. Luật sư của tôi vừa báo tin là cô ấy chết tuần trước.”


II

Anh vẫn trẻ trung, vẫn thô lỗ, vẫn quỷ quyệt, vẫn vợ chồng với một phụ nữ hiền lành, đẹp thanh nhã, chưa bao giờ được biết hoặc nghi ngờ bất cứ điều gì về chuyện tình thảm khốc của anh với cô em cuồng loạn của Cynthia, cô gái mà, đến lượt mình, chẳng biết chút gì về cuộc nói chuyện riêng mà tôi đã có với Cynthia khi cô đột ngột mời tôi đến Boston để bắt tôi thề rằng tôi sẽ nói chuyện với D. và “tống cổ” anh ta nếu anh ta không thôi gặp Sybil ngay — hoặc không ly dị vợ (người mà cô bất ngờ hình dung qua lăng kính nói năng rồ dại của Sybil như một mụ đàn bà lăng loàn xấu ma chê quỷ hờn). Tôi đã dồn anh ta vào chân tường ngay lập tức. Anh ta nói chẳng có gì đáng lo cả — anh đã quyết, dẫu có thế nào, xin thôi việc ở trường và cùng vợ chuyển đi Albany, nơi anh ta sẽ làm việc trong hãng của cha mình; và toàn bộ vấn đề, vốn đe doạ trở thành một trong những tình huống rối rắm vô vọng nhùng nhằng hàng năm, với đám bạn thiện chí bên ngoài không ngừng bàn cãi về nó mà vẫn giữ bí mật chung — và thậm chí xây dựng, giữa chính họ, những mối quan hệ gần gũi dựa trên nỗi đau người khác — đi đến kết thúc bất ngờ.

Tôi nhớ hôm sau tôi ngồi tại cái bàn kê cao của mình trong giảng đường lớn, nơi kỳ kiểm tra giữa năm môn Văn học Pháp được tổ chức ngay hôm trước vụ tự tử của Sybil. Em bước vào trên đôi giày cao gót, cùng chiếc va ly, ném phịch nó xuống góc nhà nơi vài chiếc túi khác đang chất đống, với chỉ một cái nhún vai, tuột chiếc áo choàng lông thú khỏi đôi vai gầy, phủ nó lên va ly của mình, và cùng hai hay ba cô gái khác dừng bước trước bàn tôi để hỏi khi nào tôi sẽ gửi thư báo điểm cho họ. Tôi sẽ mất một tuần, bắt đầu từ ngày mai, tôi nói, để đọc những thứ này. Tôi cũng nhớ là đã tự hỏi rằng không biết D. đã báo cho em biết về quyết định của mình hay chưa — và tôi thấy thật đau lòng với cô sinh viên nhỏ biết vâng lời của tôi do suốt 150 phút tôi cứ quay lại chăm chú nhìn em, mảnh khảnh một cách trẻ con làm sao trong bộ đồ xám ôm sát người, và cứ quan sát mái tóc sẫm màu uốn cẩn thận ấy, chiếc mũ nhỏ ấy, chiếc mũ in-hoa-nhỏ với tấm mạng nhỏ trong suốt như người ta vẫn đội mùa ấy, và bên dưới nó, gương mặt nhỏ nhắn của em bị chia cắt theo kiểu lập thể bởi các vết sẹo do một căn bệnh về da, được che đậy một cách cảm động bởi màu da rám nắng nhân tạo làm nét mặt em cứng đờ, và các nét quyến rũ của nó còn bị em làm tổn hại thêm bằng việc tô vẽ mọi thứ có thể tô vẽ được, đến nỗi nướu răng nhợt nhạt giữa đôi môi nứt nẻ màu đỏ cherry và màu mực xanh nhạt của đôi mắt em dưới hàng mi thẫm màu là những khe hở duy nhất cho phép nhìn vào sắc đẹp của em.

Hôm sau, lúc đang sắp xếp các cuốn tập xấu xí theo thứ tự bảng chữ cái, tôi đắm mình vào đống chữ viết tay hỗn độn và sớm rờ đến Valevsky với Vane, vở của họ không biết làm sao lại bị tôi chuyển nhầm chỗ. Valevsky nắn nót viết có vẻ dễ đọc cho dịp này, nhưng bài làm của Sybil để lộ ra sự phối hợp thường lệ của vài bàn tay quỷ. Em bắt đầu bằng cây bút chì rất nhạt màu, rất cứng, viết hằn rõ lên trang sau nhem nhuốc, nhưng để lại rất ít giá trị lâu bền trên mặt trước tờ giấy. Cũng may đầu bút gẫy sớm, và Sybil tiếp tục viết bằng cây bút chì khác, thẫm màu hơn, từ từ nguệch ngoạc thành những đường dày không rõ nét của cái gì đó nhìn gần giống như chì than, thêm vào đó, bằng cách mút cái đầu cùn, em đóng góp chút vết son môi. Bài em làm, mặc dù thậm chí còn nghèo nàn hơn tôi mong đợi, vẫn mang mọi dấu hiệu của một thứ từa tựa như sự tận tâm tuyệt vọng, với những đường gạch dưới, đổi chỗ, những chú thích chân trang không cần thiết, như thể em chú tâm gom góp các thứ theo cái cách đứng đắn nhất có thể. Sau đó, em mượn cây bút máy của Mary Valevsky và thêm vào: “Cette examain est finie ainsi que ma vie. Adieu, jeunes filles! Xin ông, Monsieur le Professeur, liên hệ ma soeur và nói với chị ấy rằng Chết không tốt hơn bị Điểm không, nhưng dứt khoát là tốt hơn Sống không D.”

Tôi gọi cho Cynthia ngay lập tức, cô cho tôi hay là mọi chuyện đã chấm dứt rồi — mọi chuyện đã chấm dứt từ lúc tám giờ sáng — và xin tôi mang tờ ghi chép ấy đến cho cô, rồi khi tôi mang đến, cô rạng rỡ cười qua nước mắt với sự ngưỡng mộ đầy kiêu hãnh dành cho việc dùng từ kì quái (“Thật giống cô ấy!”) mà Sybil đã tìm ra cho kỳ kiểm tra môn Văn học Pháp. Trong chớp mắt, cô “xử đẹp” hai ly cối uýt-ky pha xô-đa, mà vẫn không lúc nào rời cuốn tập của Sybil — đến lúc này đã bị rưới đầy xô-đa với nước mắt — và tiếp tục nghiên cứu tin báo tử ấy, khiến tôi, ngay lúc đó, chỉ ra cho cô thấy những lỗi ngữ pháp trong đó và giải thích cách mà từ “phụ nữ” được dịch ở các trường cao đẳng Mỹ sao cho sinh viên không thể ngây thơ bàn tán quanh từ “gái” tương đương trong tiếng Pháp, hoặc tệ hơn. Những điều khá tầm thường vô vị này lại làm Cynthia rất đỗi hài lòng lúc cô nhỏm dậy, thở hổn hển, trên bề mặt phập phồng của nỗi đau. Sau đó, giữ chặt cuốn tập mềm nhẽo ấy như thể nó là một thứ từa tựa như cuốn hộ chiếu để vào được chốn thiên đường tình cờ nào đó (nơi đầu bút chì không bị gẫy và một nhan sắc trẻ đẹp mơ màng với làn da không tỳ vết quấn món tóc quanh ngón tay trỏ mơ màng, trong lúc em trầm ngâm trên bài kiểm tra thần tiên nào đó), Cynthia đưa tôi lên gác, vào căn phòng ngủ nhỏ lạnh lẽo, chỉ để cho tôi xem, như thể tôi là cảnh sát hoặc tay hàng xóm cảm thông người gốc Ai Len, hai lọ thuốc rỗng không và chiếc giường bừa bộn mà từ đó, tấm thân non mềm, không ai cần đến, mà D. hẳn là tường tận đến ngóc ngách nhung lụa cuối cùng, đã bị chuyển đi.

III

Quãng bốn hay năm tháng sau khi Sybil chết, tôi bắt đầu gặp Cynthia khá thường xuyên. Đến lúc tôi đi New York vì công việc nghiên cứu nào đó vào dịp nghỉ lễ trong Thư viện Công cộng thì cô cũng chuyển đến thành phố ấy, nơi mà vì lý do kỳ quái nào đó (tôi cho là có mối liên hệ mơ hồ với các mô-típ nghệ thuật) cô đã thuê cái mà những người, miễn dịch với chứng sởn gai ốc, gọi là căn hộ “nước đá”, ở mức thấp của những con phố dọc ngang thành phố. Điều hấp dẫn tôi không phải là điệu bộ của cô, mà tôi nghĩ là hoạt bát phát tởm, cũng không phải vẻ ngoài của cô, mà những người đàn ông khác nghĩ là nổi bật. Cô có đôi mắt cách xa nhau rất giống mắt em cô, màu xanh lơ hoảng sợ, ngay thật, với các điểm thẫm màu phân bố xuyên tâm. Khoảng giữa đôi lông mày đen rậm của cô lúc nào cũng bóng lưỡng, và cả vành mũi nung núc thịt của cô cũng bóng lưỡng. Mô biểu bì thô kệch của cô nhìn gần giống như của đàn ông, và, dưới ánh đèn khắc nghiệt của căn phòng, bạn có thể nhìn thấy các lỗ chân lông trên gương mặt ba-mươi-hai-tuổi của cô thao láo nhìn bạn tựa như thứ gì đó trong bể cá. Cô dùng mỹ phẩm cũng say mê hệt như em gái cô đã từng, nhưng với sự cẩu thả phụ thêm vào làm cho những chiếc răng cửa to tướng của cô dính chút son môi. Cô có nước da ngăm ngăm dễ thương, mặc những bộ đồ được phối cũng không đến nỗi quá vô vị từ những món quần áo hỗn tạp khá trang nhã, và có thân hình có thể gọi là ưa nhìn; nhưng mọi thứ thuộc về cô đều dơ dáy lạ lùng, theo cái phong cách làm tôi mù mờ liên kết với sự hăng hái cánh tả trong chính trị và những thứ “tiên phong” tầm thường trong nghệ thuật, dẫu cho, trên thực tế, cô không quan tâm đến cả hai. Kiểu tóc uốn quăn của cô, dựa trên cơ sở rẽ-ngôi-và-búi-lại, có lẽ nhìn hoang dã và kỳ quái nếu nó không bị làm cho “nội trợ” hoá hoàn toàn bởi chính sự bù xù mềm mại tại cái gáy dễ bị tổn thương. Móng tay cô được vẽ loè loẹt, nhưng bị cắn nham nhở và không được sạch sẽ. Các tình nhân của cô bao gồm một nhiếp ảnh gia trẻ tuổi ít nói với nụ cười bất thình lình và hai người đàn ông lớn tuổi hơn, hai anh em, chủ cơ sở in ấn nhỏ bên kia phố. Tôi thấy ngạc nhiên với khiếu thẩm mỹ của họ mỗi khi tôi, kín đáo rùng mình, thoáng thấy những vệt lông đen lộn xộn phơi ra suốt dọc cẳng chân nhợt nhạt của cô qua lớp ni lông bít tất với sự minh bạch khoa học của một tiêu bản bị làm bẹt dí dưới tấm kính; hoặc khi tôi cảm thấy, tại mỗi chuyển động của cô, thứ mùi ảm đạm, ôi thiu, không đặc biệt dễ thấy nhưng phát tán khắp nơi và rất phiền toái mà thịt da ít khi tắm rửa của cô toả ra từ dưới các loại nước hoa và kem trang điểm mệt rã rời.

Cha cô đã nướng vào cờ bạc cả gia tài kha khá, và ông chồng đầu của mẹ cô là người gốc Xla-vơ, tuy vậy Cynthia Vane lại thuộc về một dòng họ tốt, đáng kính. Trong chừng mực mà chúng tôi biết, có lẽ nó có nguồn gốc liên quan đến các vị vua chúa và thầy bói trong màn sương mù ở những hòn đảo nơi tận cùng trái đất. Di cư qua thế giới mới hơn, qua phong cảnh của những cái cây phải chịu kiếp đoạ đày, trút lá đẹp lộng lẫy, tổ tiên của cô cả thảy là, vào một trong những giai đoạn đầu tiên, một đám nông dân ngồi vừa kín ngôi nhà thờ trắng tương phản với nền mây giông đen kịt, và sau đó là một hàng oai phong lẫm lẫm toàn các thị dân theo nghiệp buôn bán, cũng như một số học giả, giống như Tiến sỹ Jonathan Vane, một người hốc hác và sầu thảm (1780-1839), đã bỏ mạng trong trận hoả hoạn trên tàu hơi nước Lexington để sau này trở thành khách hàng quen thuộc của bàn cầu cơ nhà Cynthia. Tôi luôn có mong muốn đảo ngược phả hệ, và ở đây tôi có cơ hội làm thế, bởi lẽ đây là hậu duệ cuối cùng, Cynthia, và chỉ mình Cynthia, là người sẽ còn có chút ý nghĩa nào đó trong triều đại nhà Vane. Dĩ nhiên tôi đang ám chỉ đến năng khiếu nghệ thuật của cô, đến những bức vẽ thú vị, vui tươi, nhưng không nổi tiếng lắm, mà các bạn của bạn cô thỉnh thoảng vẫn mua — và tôi tha thiết muốn biết nơi chúng sẽ đến sau khi cô chết, những bức vẽ chân thật và nên thơ ấy, những thứ vẫn làm bừng sáng phòng khách của cô — các hình ảnh chi tiết đến ngạc nhiên về những món đồ kim loại, và cái tôi ưng nhất, Nhìn Qua Kính Chắn Gió — một tấm kính chắn gió bị sương muối che phủ một phần, với tia nước sáng chói (từ mui xe tưởng tượng) cắt ngang phần trong suốt của nó và, xuyên qua tất cả là, ánh trời xanh ngọc cùng cây linh sam xanh lục và trắng tinh.

IV

Cynthia có cảm giác rằng đứa em gái quá cố hoàn toàn không hài lòng về cô — do đến lúc này đã phát hiện ra rằng cô với tôi từng kết hợp lại để phá chuyện tình của em; vì vậy, để làm vong hồn em nguôi giận, Cynthia trở lại một kiểu cúng tiến khá nguyên thuỷ (tuy nhiên vẫn đượm vẻ hài hước của Sybil), và bắt đầu gửi đến địa chỉ làm việc của D., vào những ngày không cố định một cách cố ý, các vật mọn như ảnh chụp mộ Sybil dưới ánh sáng yếu ớt; những đoạn cắt từ chính tóc cô, mái tóc không thể phân biệt được với tóc Sybil; tấm bản đồ chia vùng của New England với một dấu thập tô mực, ngay giữa hai thị trấn trinh bạch, để đánh dấu nơi D. và Sybil đã dừng chân vào ngày hai mươi ba tháng Mười, giữa thanh thiên bạch nhật, tại một motel khoan dung, trong cách rừng hồng và nâu; và, hai lần, một con chồn hôi nhồi lông.

Là người đối thoại lắm lời hơn là thẳng thắn, cô chưa từng diễn tả được trọn vẹn cái lý thuyết về các tinh anh xen ngang mà bằng cách nào đó cô đã đúc kết ra. Về cơ bản thì chẳng có gì đặc biệt mới mẻ quanh tín ngưỡng riêng tư của cô bởi lẽ nó giả định trước một cõi âm khá tầm thường, một nhà tắm nắng yên lặng của các linh hồn bất tử (được kết nối với nhau bằng tổ tiên đã khuất), mà trò tiêu khiển chính của họ gồm có việc bay lượn định kỳ trên những người thân còn sống. Điểm thú vị ở đây là cái khuynh hướng thực dụng hiếu kỳ mà Cynthia đưa vào phép siêu hình nhạt nhẽo của mình. Cô tin chắc rằng sự tồn tại của cô bị ảnh hưởng bởi mọi thể loại bạn bè đã chết mà từng người trong bọn họ thay phiên nhau chi phối số phận cô như thể cô là mèo con lạc lối được một nữ sinh đi ngang qua nhặt lên, áp vào má, và cẩn thận đặt lại xuống đất, gần bờ giậu ngoại ô nào đó — và ngay sau đó được vuốt ve bởi bàn tay vội vàng khác hoặc bị mang đến thế-giới-cửa bởi quý bà mến khách nào đó.
 
Trong vài giờ, hoặc vài ngày liên tiếp, và đôi khi trở đi trở lại, theo một chuỗi không đều đặn, trong nhiều tháng hoặc nhiều năm, bất cứ chuyện gì xảy đến với Cynthia, sau khi một người nhất định nào đó qua đời, sẽ, cô nói, do thói tật và tâm trạng của người ấy. Sự kiện có thể lạ thường, làm thay đổi dòng đời người ta; hoặc nó có thể là một xâu rắc rối lặt vặt chỉ vừa đủ sáng tỏ để nổi bật lên trên nền một ngày thường và sau đó nhạt dần vào những chuyện linh tinh vẫn còn mơ hồ trong lúc tinh anh từ từ phai mờ. nh hưởng có thể tốt hoặc xấu; cái chính là nguồn gốc của nó có thể nhận biết được. điều này tựa như đi xuyên qua tâm hồn con người, cô nói. Tôi thử tranh luận rằng có thể cô không phải lúc nào cũng có năng lực xác định nguồn chính xác bởi lẽ không phải tất cả mọi người đều có một linh hồn có thể nhận ra được; rằng những lá thư vô danh và quà Giáng sinh có lẽ đã được người nào đó gửi đi; rằng, trong thực tế, cái mà Cynthia gọi là “ngày thường” có thể chỉ là dung dịch loãng của những tinh anh ô hợp hoặc đơn giản là vụ đổi ca thường lệ của một thiên thần bảo vệ buồn chán. Thế còn Chúa thì sao? Liệu những người vẫn phẫn uất với bất cứ nhà độc tài quyền lực vô biên nào trên trái đất có mong ngóng một kẻ như thế trên thiên đàng hay không? Còn chiến tranh thì sao? Một ý tưởng mới khủng khiếp làm sao — các binh lính đã chết vẫn chiến đấu với những kẻ còn sống, hoặc những đạo quân ma cố gắng thắng nhau bằng được suốt cuộc đời các cụ già tàn tật.

Nhưng Cynthia vượt lên trên tính phổ quát cũng như cô đã qua phía bên kia logic. “à, đây là Paul,” cô sẽ nói vậy khi món súp sôi tràn ra ngoài đầy thù hận, hoặc “tôi đoán là Betty Brown tốt bụng đã qua đời” khi cô trúng thưởng chiếc máy hút bụi tuyệt đẹp và rất cần thiết trong cuộc sổ xố từ thiện. Và, cùng kiểu nói năng loanh quanh luẩn quẩn của Henry James làm cho tâm trí Pháp của tôi cáu điên lên, cô sẽ quay lại thời gian khi Betty với Paul chưa qua đời, kể cho tôi nghe về cơn mưa quà tặng đầy thiện ý, nhưng kỳ quặc và hoàn toàn không chấp nhận được, bắt đầu bằng cái ví tay cũ trong có tờ séc ba đô la mà cô nhặt được trên phố và, tất nhiên, đã gửi trả lại (cho Betty Brown đã nói đến ở trên — đấy là nơi cô đến đầu tiên — một phụ nữ hom hem da màu hầu như không thể đi được), rồi kết thúc bằng đề xuất xấc xược từ anh chàng vẫn theo đuổi cô lâu nay (đây là nơi Paul xuất hiện) để vẽ những bức tranh “chân thật” về ngôi nhà và gia đình anh ta với món thù lao phải chăng — tất cả những điều này tiếp theo sự ra đi của bà Page nào đó, một con mụ tốt bụng nhưng khá già, kẻ từng làm phiền cô với ít lời răn dạy thực dụng từ khi Cynthia còn bé.

Tính cách Sybil, cô nói, có đường ven cầu vồng như thể bị mất nét đôi chút. Cô nói rằng nếu tôi biết Sybil rõ hơn thì có lẽ tôi sẽ hiểu ngay rằng tinh anh ở các sự kiện lặt nhặt đã giống Sybil như thế nào, các sự kiện, theo nhiều đợt, ngập tràn cuộc sống Cynthia sau vụ Sybil tự tử. Từ hồi họ mất mẹ, họ luôn muốn thoát khỏi ngôi nhà ở Boston và chuyển đến New York, nơi tranh Cynthia vẽ, họ nghĩ, sẽ có cơ hội được hâm mộ rộng rãi hơn; nhưng ngôi nhà cũ níu kéo họ bằng tất cả các xúc tu nhung lông của nó. Sybil quá cố, tuy nhiên, tiếp tục chia tách ngôi nhà khỏi quang cảnh chung quanh — một điều tác động hết sức tai hại đến cảm xúc mà ngôi nhà khơi gợi lên. Ngay bên kia con phố hẹp, một công trình xây dựng to lớn, xấu xí, đang thành hình trên các dàn giáo. Cặp bạch dương quen thuộc, đã chết mùa xuân ấy, biến thành những bộ xương vàng hoe. Những người thợ đến và phá vỡ cái vỉa hè màu ấm cũ kỹ một cách đáng yêu có sắc tím đặc biệt rực rỡ vào những ngày tháng Tư ẩm ướt và dội lại một cách đáng ghi nhớ làm sao những bước chân buổi sáng về hướng bảo tàng của ngài Lever, người mà ngay sau khi nghỉ hưu ở tuổi sáu mươi đã dành cả một phần tư thế kỷ chỉ để nghiên cứu ốc sên.

Nhân lúc đang nói về người già, ta nên bổ sung thêm rằng đôi khi chính những sự can thiệp và điềm lành sau khi chết ấy lại ở ngay bản chất sự giễu nhại. Cynthia đang giao du với một nhân viên thư viện lập dị tên là Porlock, tay này vào những năm cuối cuộc đời bụi bặm của mình đã làm công tác nghiên cứu sách cũ để kiếm các lỗi in sai huyền diệu như sự thay thế chữ l cho chữ h thứ hai trong từ “hither.” Trái ngược hẳn với Cynthia, anh ta chẳng quan tâm đến các dự báo giật gân tối nghĩa; tất cả những gì anh ta theo đuổi là chính cái điều quái dị ấy, sự thay đổi mà những kẻ có tài bắt chước ấy lựa chọn, những vết nhơ nhìn như đoá hoa; và Cynthia, một kẻ nghiệp dư còn biến thái hơn của các trò đố chữ, chơi chữ, từ ghép trái phép hoặc méo mó, vân vân, đã giúp kẻ lập dị đáng thương ấy theo đuổi cuộc truy lùng mà trong ánh sáng của ví dụ mà cô trích dẫn đã gây cho tôi ấn tượng như cơn điên thống kê. Dẫu sao chăng nữa, cô nói, vào ngày thứ ba sau khi anh ta chết, cô đã đọc một tạp chí và bỗng thấy đoạn trích dẫn từ một bài thơ bất hủ (mà cô, cùng các độc giả cả tin khác, tin rằng đã thực sự được sáng tác trong mơ) khi cô chợt nhận ra rằng “Alph” là một chuỗi chữ tiên tri từ các chữ cái đầu của Anna Livia Plurabelle (một dòng sông thần thánh khác chảy xuyên qua, hoặc vòng quanh thì đúng hơn, giấc mơ khác nữa), trong khi chữ h thêm vào thì vẫn đứng khiêm nhường, như tấm biển chỉ đường kín đáo, cho cái từ đã thôi miên ngài Porlock đến thế. Và tôi ước mình có thể nhớ lại được cuốn tiểu thuyết hoặc truyện ngắn ấy (mà tôi tin là của một nhà văn đương thời nào đấy) mà trong đó, không được tác giả biết đến, những chữ cái đầu tiên của các từ trong đoạn văn cuối cùng đã tạo thành, theo như Cynthia giải mã, một thông điệp từ người mẹ đã quá cố của anh ta.

V

Tôi rất tiếc phải nói rằng, do không thoả mãn với những tưởng tượng khéo léo này, Cynthia đã để lộ ra lòng mến chuộng tức cười với thuyết duy linh. Tôi từ chối đi cùng cô đến những buổi ngồi đồng mà ở đó bọn đồng cốt được trả tiền đến tham gia: tôi biết quá nhiều về điều này qua các nguồn tin khác. Tuy vậy, tôi cũng đồng ý dự những buổi kịch nhỏ được dàn dựng bởi Cynthia và hai quý ông bạn bè mặt lạnh như tiền ở hiệu in. Họ là những gã đàn ông lớn tuổi, béo lùn, lịch thiệp, khá quái đản, nhưng tôi tự thuyết phục mình rằng họ có văn hoá và rất hóm hỉnh. Chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn nhỏ mỏng manh, và bắt đầu rung răng rắc gần như ngay khi chúng tôi đặt đầu ngón tay lên trên nó. Tôi vui sướng được thấy đủ loại hồn ma văng ra các bản tường trình của chúng một cách hết sức dễ dàng mặc dù khước từ giải thích bất cứ điều gì mà tôi không hoàn toàn nắm bắt được. Oscar Wilde bước vào và nói rất lưu loát một thứ tiếng Pháp méo mó, với kiểu diễn đạt đặc Anh thường lệ, buộc tội một cách mờ ám cha mẹ đã quá cố của Cynthia về những thứ xuất hiện trong các ghi chép ngắn của tôi như “sự đạo văn.” Một linh hồn lanh lợi góp thêm thông tin không ai yêu cầu rằng hắn, John Moore, và em trai Bill của hắn từng là công nhân mỏ than ở Colorado và bỏ mạng trong vụ sụt lở ở “Crested Beauty” hồi tháng Một năm 1883. Frederic Myers, một kẻ sừng sỏi lõi đời, chế ra mẩu thơ (giống một cách kỳ cục với những sản phẩm phù du của chính Cynthia) mà một phần được ghi lại trong sổ của tôi:

Cái gì đây - con th o thut
Hay tia sáng bt t khe sâu
Kìm nén ta khi các thói tt
Và xua tan đi gic mng su

Cuối cùng, với tiếng loảng xoảng hết sức ầm ĩ cùng mọi thể loại chuyển động rùng rùng như nhảy dích trên một phần chiếc bàn, Leo Tolstoy ghé thăm nhóm nhỏ chúng tôi và, khi được yêu cầu chứng thực mình bằng những điểm đặc trưng về nơi cư trú trên trần gian, quăng lên một miêu tả rắc rối về cái có vẻ như phần mộc của một kiến trúc kiểu Nga. (“các hình dạng trên bảng — người, ngựa, gà trống, người, ngựa, gà trống”), tất cả đều rất khó chép lại, rất khó hiểu, và không thể xác minh.

Tôi tham dự hai hay ba buổi ngồi đồng khác nữa, chúng thậm chí còn ngớ ngẩn hơn, nhưng tôi phải thú nhận rằng tôi thích thú sự tiêu khiển trẻ thơ mà chúng mang lại và món rượu táo mà chúng tôi uống (Podgy và Pudgy kiêng rượu hoàn toàn) hơn những buổi tiệc ở ngôi nhà dễ sợ của Cynthia.

Cô đưa họ qua căn hộ xinh xắn của nhà Wheeler bên hàng xóm — một kiểu thu xếp chân tình từ bản chất hướng ngoại của cô, nhưng dĩ nhiên cũng còn do phòng khách của chính cô luôn giống như bảng màu cũ kỹ bẩn thỉu. Theo một tục lệ man rợ, mất vệ sinh, và thông dâm, những chiếc áo choàng của khách, còn ấm bên trong, được Bob Wheeler trầm lặng, hói đầu bưng vào chốn thiêng liêng của căn phòng ngủ nhỏ xíu và chất đống trên chiếc giường ngủ vợ chồng. Cũng là ông pha các loại rượu, mà nhà nhiếp ảnh trẻ truyền quanh trong khi Cynthia và bà Wheeler chuẩn bị bánh xăng-vích.

Những vị khách đến muộn có cảm tưởng rất nhiều người ồn ào tụ tập thành nhóm một cách không cần thiết trong không gian mù mịt khói xanh giữa hai tấm gương no nê ảnh chiếu. Tôi cho rằng, vì Cynthia muốn được là người trẻ nhất trong phòng, cho nên các phụ nữ mà cô hay mời đến, dù đã có gia đình hay vẫn còn cô đơn, ở, may lắm thì, độ tuổi bốn mươi đáng ngờ; vài người trong số họ mang từ nhà, trong những chiếc taxi đen tối, các dấu tích còn nguyên vẹn của nhan sắc, thứ mà, dẫu sao thì, họ cũng đánh mất lúc buổi tiệc diễn tiến. Điều luôn làm tôi kinh ngạc là khả năng mà những người tham dự cuộc vui thân mật cuối tuần sở hữu khi họ tìm được gần như ngay lập tức, bằng một phương pháp thuần tuý theo kinh nghiệm nhưng hết sức chính xác, một mẫu thức say xỉn chung, mà mọi người bám víu vào một cách trung thành cho đến khi, tất cả cùng nhau, thăng qua mức sau. Tình bạn thắm thiết giữa các phụ nữ có chồng được tô điểm bằng âm bội tinh nghịch trai lơ, trong khi cái nhìn bất động hướng nội của những người đàn ông đang say mềm một cách đáng yêu lại giống như sự giễu nhại đầy báng bổ với sự mang thai. Mặc dù vài vị khách cách này cách khác có liên quan đến nghệ thuật, ở đó vẫn chẳng có cuộc mạn đàm hứng thú nào, chẳng có cái đầu đội-vòng-hoa, được-khuỷu-tay-đỡ nào, và tất nhiên không có các cô gái thổi sáo. Từ vị trí thuận lợi nào đó nơi cô ngồi theo tư thế nàng tiên cá bị mắc cạn trên tấm thảm nhạt màu cùng vài gã trai trẻ hơn, Cynthia, gương mặt được trang điểm bằng lớp màng mồ hôi toả sáng, sẽ bò trên hai đầu gối, một đĩa quả hạch mời mọc trên một bàn tay, và quả quyết vỗ bằng bàn tay kia lên cẳng chân lực lưỡng của Cochran hay Corcoran, một tay lái buôn nghệ thuật, ngồi thu lu, trong chiếc sô-pha màu xám-ngọc, giữa hai quý cô hồng hào, tan ra vì hạnh phúc.
Vào giai đoạn xa hơn nữa, là tới lúc trào dâng niềm vui phóng đãng hơn. Corcoran hay Coransky sẽ túm vai Cynthia hoặc một phụ nữ vẩn vơ khác và đưa vào một góc để bắt cô ấy đối mặt với một mớ lộn xộn nhăn nhở rặt những truyện cười riêng tư và tin đồn nhảm, nhân đó, với nụ cười và cái hất đầu, cô ấy sẽ trốn thoát. Và muộn hơn nữa, nơi đó sẽ xôn xao những gần gũi giới tính, những hoà giải hài hước, cánh tay trần trụi nhục dục quàng quanh chồng người đàn bà khác (ông này đang đứng rất thẳng người ngay giữa căn phòng chao đảo), hoặc sự bùng nổ đột ngột cơn giận giữ đỏng đảnh, hoặc sự đeo đuổi vụng về — và nụ cười nửa miệng lặng lẽ của Bob Wheeler khi nhặt lên những chiếc ly mọc như nấm trong bóng râm của những chiếc ghế.

Sau buổi tiệc cuối cùng thuộc dạng này, tôi viết cho Cynthia một lá thư hoàn toàn vô hại và, nói chung, đầy thiện ý, trong thư tôi dùng một truyện tiếu lâm tiếng La Tinh để chế giễu vài vị khách của cô. Tôi cũng xin lỗi vì không đụng đến rượu uýt-ky của cô, phân trần rằng do là người Pháp nên tôi ưa nho hơn lúa mạch. Vài ngày sau, tôi gặp cô trên bậc thềm Thư Viện Công Cộng, trong ánh nắng nhập nhoà, dưới cơn mưa bóng mây, đang mở cây dù màu hổ phách của mình, đánh vật với hai cuốn sách cắp nách (mà tôi đỡ cho cô một lúc), Nhng bước chân trên đường Biên Thế Gii Khác của Robert Dale Owen, và cuốn gì đó về “Thuyết Duy Linh và Cơ đốc Giáo”; đột nhiên, ngay lúc đó, dù không có khiêu khích nào từ phía tôi, cô công kích tôi dữ dội và thô tục, dùng những từ độc địa, nói — xuyên qua những giọt mưa thưa thớt hình quả lê — rằng tôi là kẻ hợm hĩnh đạo đức giả; rằng tôi chỉ nhìn thấy điệu bộ và bề ngoài lừa dối của con người; rằng Corcoran đã cứu được, tại hai đại Dương khác nhau, hai người khỏi bị chết đuối — theo sự trùng khớp ngẫu nhiên không thích hợp, cả hai tên là Corcoran; rằng Joan Winter hay nô đùa ầm ĩ và kêu thất thanh có cô con gái nhỏ phải chịu kiếp nạn lớn lên trong cảnh mù loà hoàn toàn khi mới được vài tháng; và rằng người phụ nữ mặc đồ xanh lục có bộ ngực tàn nhang, người bị tôi làm mất mặt bằng cách nào đấy không rõ, đã viết một cuốn sách bán rất chạy trên toàn quốc hồi năm 1932. Cynthia kỳ lạ! Tôi nghe nói cô có thể đợt nhiên trở nên khiếm nhã một cách hung tợn với những người mà cô từng yêu quý và tôn trọng; dẫu sao thì người ta vẫn phải vạch ra ở đâu đó một đường ranh và cũng do đến lúc ấy tôi đã nghiên cứu đủ về những tinh anh thú vị và các xung động bản năng cùng các thứ linh tinh khác của cô, nên tôi quyết định tuyệt giao với cô.

VI

Cái đêm D. báo tin cho tôi về cái chết của Cynthia, sau mười một giờ khuya tôi mới quay về ngôi nhà hai tầng mà tôi chia sẻ, theo chiều ngang, với quả phụ của một giáo sư danh dự. Lúc đặt chân lên hiên nhà, tôi đưa mắt nhìn với nỗi sợ cô đơn vào hai loại bóng tối trên hai hàng cửa sổ: bóng tối trống vắng và bóng tối giấc ngủ. 

Tôi có thể làm điều gì đó với loại thứ nhất nhưng không thể bắt chước loại thứ hai. Chiếc giường của tôi không mang lại cho tôi cảm giác an toàn; các lò xo của nó chỉ làm thần kinh tôi nảy tưng tưng mà thôi. Tôi chìm vào những bản sonnet của Shakespeare — và thấy mình đang kiểm tra một cách ngu ngốc các chữ cái đầu dòng để xem chúng có thể tạo nên những từ thiêng liêng nào. Tôi ghép được FATE (LXX), ATOM (CXX), và, hai lần, TAFT (LXXXVIII, CXXXI). Thỉnh thoảng tôi liếc quanh để xem các vật thể trong phòng mình đang hành xử ra sao. Thật lạ lùng khi nghĩ rằng giả dụ như bom bắt đầu rơi thì tôi sẽ có cảm giác còn không bằng sự phấn khích của con bạc (và rất nhiều nỗi khuây khoả trần tục), còn trái tim tôi sẽ nổ tung nếu một cái chai nhỏ nhìn có vẻ căng thẳng đáng ngờ nào đó trên cái giá đằng kia di chuyển một khoảng nhỏ chừng một in-xơ lệch qua bên. Sự tĩnh lặng cũng đặc quánh đáng ngờ như thể đang thong thả tạo hình một tấm màn đen cho chớp sáng thần kinh được tạo nên bởi tiếng động nhỏ bất kỳ từ một nguồn nào đó không rõ. Mọi giao thông chết lặng. Tôi hoài công cầu xin tiếng rền rĩ của xe tải trên phố Perkins. Người phụ nữ ở phía trên, người vẫn làm tôi phát điên bằng tiếng thình thịch bùng bùng được tạo ra bởi cái dường như là đôi chân đá của quái vật khổng lồ nào đó (trên thực tế, trong cuộc sống ban ngày, bà ta là một tạo vật nhỏ buồn bã giống con chuột lang khô quắt) sẽ giành được ân sủng của tôi nếu ngay bây giờ bà ấy lê bước vào phòng tắm. Tôi tắt đèn và hắng giọng vài lần để tỏ ra có trách nhiệm với ít nhất là âm thanh ấy. Tôi vụng về điều khiển một cuộc dạo chơi trong tâm tưởng cùng một chiếc ô tô rất đỗi xa xôi nhưng nó thả tôi xuống trước cả khi tôi có cơ hội lơ mơ chợp mắt. Ngay sau đó, tiếng lách tách (do, tôi hy vọng, tờ giấy loại bị vò nhàu mở bung ra như đoá hoa đêm tiều tuỵ, ương bướng) bắt đầu và kết thúc trong giỏ giấy vụn, và chiếc bàn đầu giường tôi đáp lời bằng tiếng lạch cạch rất khẽ. Nó diễn ra hệt như thể Cynthia trình diễn ngay lúc ấy một buổi diễn rẻ tiền của lũ yêu tinh.

Tôi quyết định chiến đấu với Cynthia. Tôi hồi tưởng trong tâm trí mình kỷ nguyên hiện đại của tiếng gõ và ma quỷ hiện hình, bắt đầu với tiếng gõ cửa hồi năm 1848, tại ngôi làng Hydesville, New York, và kết thúc bằng hiện tượng lố bịch tại Cambridge, Massachusetts; tôi gợi lại những chiếc xương mắt cá chân và những cái phách giải phẫu học khác của chị em nhà Fox (như được miêu tả bởi các nhà hiền triết của đại học Buffalo); đại diện điển hình giống nhau một cách huyền bí của những thanh niên nhã nhặn ở Epworth hoặc Tedworth lạnh lẽo, toát ra cùng một sự nhiễu nhương như ở Peru cổ đại; những cuộc truy hoan trọng thể thời Nữ hoàng Victoria cùng mưa hoa hồng và những cây đàn xếp bập bềnh theo giai điệu của âm nhạc thánh thần; những kẻ lừa đảo chuyên nghiệp mửa ra các miếng vải xô ẩm ướt vẫn dùng để bọc pho-mát; ông Duncan — người chồng đường hoàng của bà đồng, một quý ông mà, khi được hỏi liệu ông có chịu cho điều nghiên hay không, xin cáo lỗi, lấy cớ đồ lót bẩn; ông già Alfred Russel Wallace, nhà tự nhiên học ngờ nghệch, từ chối tin rằng cái dáng hình trắng trắng với đôi chân trần và dái tai không bị đục lỗ đằng trước ông, ở một xứ quỷ riêng tư tại Boston, có thể là bà Cook rất mực đoan trang mà ông vừa mới thấy đang say ngủ, trong cái góc che màn, mặc toàn đồ đen, đi đôi bốt buộc giây và đeo khuyên tai; hai nhà điều tra khác, nhỏ con, yếu đuối, nhưng khá thông minh và linh lợi, chân tay níu chặt Eusapia, một phụ nữ đứng tuổi phúng phính, to con, bốc mùi tỏi, người vẫn lừa được họ; còn nhà ảo thuật đa nghi và ngượng nghịu, được chỉ dẫn bởi “sự điều khiển” của Margery trẻ trung quyến rũ sao cho không bị lạc lối trong lớp vải lót áo choàng tắm mà đi theo bít tất dài bên phải cho đến khi ông ta tới được bắp vế trần trụi — trên lớp da ấm mà ông ta cảm thấy một khối “viễn tạo”, hiện lên dưới cảm nhận xúc giác giống một cách đặc biệt với miếng gan lạnh, chưa bị chế biến. 

VII

Tôi đã van lơn nhục thân, và sự ô uế của nhục thân, để bác lại và đánh bại tính ngoan cố có thể có của cuộc đời hồn lìa khỏi xác. Than ôi, những lời cầu khẩn này chỉ làm trầm trọng hơn nỗi sợ của tôi với bóng ma Cynthia. Sự bình yên tái lai cùng bình minh, và khi tôi trườn vào giấc ngủ thì ánh nắng xuyên qua các mành mành cửa sổ màu hung để lọt vào một giấc mơ không biết làm sao mà toàn những Cynthia.

Điều này thật đáng thất vọng. An toàn trong pháo đài ánh sáng ban ngày, tôi tự nhủ rằng mình đã mong đợi nhiều hơn. Cô ấy, một hoạ sỹ của những chi tiết sáng chói như kính — mà sao lại mơ hồ đến thế! Tôi nằm lên giường, ngẫm lại giấc mơ của mình và lắng nghe lũ chim sẻ ngoài kia: Ai mà biết được, nếu thu âm và cho quay lại, tiếng chim ấy biết đâu sẽ thành giọng người, thành lời nói, hệt như lời nói sẽ biến thành tiếng hót líu lo khi cho chạy lùi lại? Tôi ép mình đọc lại giấc mơ — quay lại, theo đường chéo, lên, xuống — cố gắng hết sức để làm sáng tỏ điều gì đó thuộc-về-Cynthia ở trong nó, điều gì đó lạ lùng và có tính gợi nhớ phải có ở nơi đó.

Bất an, nằm gập người ho, ủ dột, ốm. Con yêu nữ trăng hoa. Ít ai tình riêng ưng phận hèn. Im. Chẳng ưa ai. Em mong sẽ yên bình. Im lặng.