NABOKOV

Humbert và Lolita

Phim Lolita.

Lolita

Phim Lolita

Lolita

Phim Lolita

Nabokov

Life

Lolita và Humbert

Phim Lolita

15 Apr 2014

Lolita (bản bìa giả da)



Bản bìa da được in với số lượng hạn chế, độc giả nào có quan tâm xin vui lòng liên hệ qua email:

Vietnamlolita@gmail.com

hoặc trang facebook:

https://www.facebook.com/vietnamlolita

11 Mar 2014

Tư Duy Hình Ảnh Trong Lolita

Lolita bản tiếng Anh nổi tiếng một phần vì "sự khó đọc" của nó, ngay cả với người Mỹ. Nhiều chuyên gia cho rằng ngoài The Annotated Lolita thì bản tiếng Nga do chính Nabokov dịch cũng là một tài liệu giúp cho bản tiếng Anh dễ hiểu hơn. Quả thật, có khá nhiều chỗ trong bản tiếng Nga đã được Nabokov viết lại, viết cho rõ ý hơn. Và sự chính xác cao của tiếng Nga cũng là một yếu tố giúp cho nhiều đoạn văn trong Lolita phần nào dễ hiểu hơn. Tuy nhiên, cực kỳ khó tra cứu ý nghĩa của các từ và các thành ngữ tiếng Nga trên internet, nên nếu ai dịch Lolita bằng tiếng Nga chắc chắn sẽ lao đầu không những vào đá, mà có thể nói là vào lửa. Để nói về sự khác biệt giữa hai Lolita của Nabokov, xin ví dụ một đoạn khá thú vị trong Chương 32, phần II: 

Tiếng Anh: 

I recall certain moments, let us call them icebergs in paradise, when after having had my fill of her—after fabulous, insane exertions that left me limp and azure-barred—I would gather her in my arms with, at last, a mute moan of human tenderness (her skin glistening in the neon light coming from the paved court through the slits in the blind, her soot-black lashes matted, her grave gray eyes more vacant than ever—for all the world a little patient still in the confusion of a drug after a major operation)




Nabokov tả lại một số thời điểm sau khi làm tình giữa Humbert và Lolita, hai người nằm (trần truồng) trong những luồng sáng đèn neon chiếu qua mành cửa. Những luồng sáng này vắt qua cơ thể hai người, và chúng được Nabokov dùng từ "azure-barred" để mô tả. Nếu không đọc toàn bộ đoạn văn mà chỉ dịch "mổ cò" thì thật sự rất khó hiểu và khó dịch từ này. Như Dương Tường, chắc do không hiểu nổi, nên đã dịch đại thành: 


Dương Tường dịch từ này thành "đầu váng mắt hoa" nghe xuôi tai, nhưng sai bét so với bản gốc. Và cũng do không hiểu văn, nên Dương Tường đã viết lại toàn bộ câu văn này, làm nó không còn liên quan gì nhiều đến bản gốc. Và trong chương 32 phần II cực kỳ khó dịch này, Dương Tường đã dịch đại như thế rất nhiều lần, chứ không chỉ ở chỗ này. 

Trong bản tiếng Nga, Nabokov có lẽ cũng sợ độc giả khó hiểu, nên viết về "azure-barred" rất chi tiết như sau:

Вспоминаю некоторые такие минуты — назовѐм их айсбергами в раю, — когда, насытившись ею, ослабев от баснословных, безумных трудов, безвольно лёжа под лазоревой полосой, идущей поперѐк тела, я, бывало, заключал еѐ в свои объятья с приглушѐнным стоном человеческой (наконец!) нежности.

Tạm dịch chỗ tiếng Nga tô đậm mà Nabokov chuyển ngữ từ azure-barred qua: "nằm dưới những vạch màu xanh da trời chạy ngang người". Thực ra, tiếng Nga hoàn toàn có đủ khả năng diễn đạt hệt như bản tiếng Anh, tuy nhiên, Nabokov có lẽ có lý do riêng để dịch như vậy, và lý do đó đã chết theo ông. Nhưng ông từng nói trong bài trả lời phỏng vấn BBC năm 1962 rằng: I don't think in any language. I think in images.

Và nếu ai không có khả năng "think in images", thiết nghĩ không nên đọc Lolita, chứ chưa nói đến chuyện đi dịch nó! 

7 Mar 2014

Về Cuốn Sách Nhan Đề Lolita



Sau khi tôi nhập vào hiện thân ông John Ray tinh tế, một nhân vật trong Lolita và cũng là người đã thảo Lời Tựa, thì bất cứ lời nhận xét nào xuất phát trực tiếp từ tôi đều có thể gây cho người ta ấn tượng — và trên thực tế cũng có thể gây ấn tượng cho chính tôi — như một hiện thân của Vladimir Nabokov đang nói về cuốn sách của chính ông ta. Dẫu sao chăng nữa, có vài điểm vẫn cần phải được tranh luận; và thủ pháp tự truyện có thể khiến cho người khéo bắt chước và người làm mẫu hòa lẫn vào với nhau.

Các giảng viên văn chương hay có khuynh hướng sáng chế những vấn đề như thể “Mục đích của tác giả là gì?” hoặc thậm chí trầm trọng hơn “Anh chàng này muốn nói điều gì đây?” Mà tôi tình cờ lại là dạng tác giả mà ngay lúc bắt tay vào làm việc với cuốn sách nào đó đã chẳng có mục đích nào khác ngoài chuyện thoát khỏi cuốn sách ấy, và là người, khi được thỉnh cầu giải thích nguyên khởi và sự phát triển của nó, sẽ cậy nhờ vào những thuật ngữ cổ giả dụ như Tương Tác giữa Cảm Hứng và Phối Hợp — những thứ mà, tôi xin thú nhận, nghe như một ảo thuật gia giảng giải về mánh lới này bằng cách biểu diễn mánh lới khác.

Nhịp đập khẽ khàng đầu tiên của Lolita chạy suốt qua tôi vào cuối năm 1939 hay đầu năm 1940, ở Paris, vào thời gian mà tôi nằm bẹp vì căn bệnh đau dây thần kinh liên sườn tồi tệ. Theo những gì tôi còn nhớ được, thì cái rùng mình khởi thủy của cảm hứng đã được khơi gợi bởi bài báo về con dã nhân trong vườn bách thú Jardin des Plantes, kẻ, sau nhiều tháng được một nhà khoa học dỗ ngon dỗ ngọt, đã tạo ra được bức tranh đầu tiên từng được vẽ bằng chì than bởi một con thú: bức phác họa này cho thấy những thanh chấn song của cái chuồng nhốt tạo vật tội nghiệp ấy.  Tài liệu có tính thúc đẩy này không có sự liên quan về mặt nguyên bản đến mạch suy nghĩ tiếp theo, cái, dẫu sao thì, cũng đã dẫn đến, nguyên mẫu của cuốn tiểu thuyết này của tôi, một truyện ngắn khoảng ba mươi trang. Tôi viết nó bằng tiếng Nga, ngôn ngữ mà tôi đã sử dụng để viết tiểu thuyết từ năm 1924 (những cuốn hay nhất trong số chúng chưa được dịch qua tiếng Anh, và toàn bộ chúng bị cấm ở Nga do những lý do chính trị). Nhân vật nam là người Trung Âu, nymphet ẩn danh là người Pháp, và những địa điểm là Paris và Provence. Tôi cho anh ta cưới người mẹ đau ốm của cô bé, bà này chết ngay sau đó, và sau một toan tính bất thành nhằm lợi dụng cô bé mồ côi ở một phòng khách sạn, Arthur (bởi vì đó là tên anh ta) lao mình vào dưới bánh xe tải. Tôi đọc truyện này vào một đêm thời chiến dưới ánh đèn bọc giấy xanh lơ cho một nhóm bạn — Mark Aldanov, hai nhà cách mạng xã hội, và một nữ bác sĩ, nhưng tôi không hài lòng với nó và hủy nó ít lâu sau khi chuyển qua Mỹ hồi năm 1940.

Vào khoảng năm 1949, ở Ithaca, phía Bắc bang New York, nơi tôi dạy văn học Nga, nhịp đập ấy, vốn chưa bao giờ ngưng hẳn, bắt đầu quấy tôi trở lại. Sự phối hợp kết giao với cảm hứng bằng niềm đam mê tươi mới và cuốn hút tâm trí tôi vào một cách xử lý mới với chủ đề, lần này bằng tiếng Anh — ngôn ngữ của nữ gia sư đầu tiên của tôi ở St. Petersburg, hồi năm 1903, bà Rachel Home. Nàng nymphet, giờ đây mang chút dòng máu Ai-Len, thực tế vẫn là cô thiếu nữ y như thế, và ý tưởng căn bản về tình-con-duyên-mẹ cũng vẫn tiếp tục tồn tại; nhưng trong những mặt khác thì câu chuyện rất mới mẻ và bí mật mọc dần những móng vuốt và đôi cánh của một tiểu thuyết.

Cuốn sách tiến triển chậm, với nhiều gián đoạn và những chỗ lạc đề. Tôi mất khoảng bốn mươi năm để thêu dệt nên nước Nga và Tây Âu, và giờ đây tôi đối mặt với nhiệm vụ thêu dệt nước Mỹ. Việc thu thập những nguyên liệu địa phương thuộc loại sẽ cho phép tôi rưới thêm đôi chút “thực tế” (một trong vài từ sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu thiếu các dấu ngoặc kép) trung bình vào mẻ rượu của trí tưởng tượng cá nhân, ở tuổi năm mươi, hóa ra là một quá trình khó khăn hơn nhiều so với nó đã từng diễn ra ở châu Âu vào thời trai trẻ của tôi khi năng lực cảm thụ và khả năng ghi nhớ đang ở đỉnh cao tất yếu. Những cuốn sách khác xen ngang. Một đôi lần, tôi đã định đốt bản thảo đang viết dở và đã mang  Juanita Dark của tôi xa tới tận chiếc bóng của cái lò đốt rác đứng xiêu vẹo trên bãi cỏ trinh trắng, thì lúc đó tôi bị chặn lại bởi ý nghĩ rằng bóng ma của cuốn sách bị hủy sẽ ám các tài liệu của tôi cho đến khi tôi chết.

Mùa hè nào vợ tôi và tôi cũng đi săn bướm. Các mẫu vật được ký thác vào những cơ quan khoa học, giả dụ như Bảo Tàng Động Vật Học Đối Sánh ở Harvard hoặc bộ sưu tập của Đại Học Cornell. Các nhãn ghi nơi tìm thấy mẫu vật được ghim dưới những con bướm này sẽ rất hữu ích cho học giả nào đó ở thế kỷ hai mươi mốt có sở thích với tiểu sử bí hiểm. Tại những tổng hành dinh của chúng tôi như Telluride, bang Colorado; Afton, bang Wyoming; Portal, bang Arizona; và Ashland, bang Oregon, cuốn Lolita ấy lại được tôi hăng say viết tiếp trong những buổi tối hoặc những ngày nhiều mây. Tôi kết thúc việc chép bản thảo qua chữ viết thường vào mùa xuân năm 1954, vợ tôi gõ lại nó thành ba bản bằng máy đánh chữ, và ngay sau đó tôi bắt đầu tìm kiếm nhà xuất bản.

Thoạt đầu, theo tư vấn của một ông bạn già thận trọng, tôi đã nhún nhường đến mức đặt điều kiện xuất bản cuốn sách dưới bút danh khác. Tôi không biết mình sẽ có lúc nào đó thấy ân hận là  ít lâu sau, do hiểu rõ rằng cái mặt nạ có thể dễ dàng để lộ nguyên cớ của chính tôi như thế nào, tôi lại quyết định ký tên thật cho Lolita. Bốn nhà xuất bản Mỹ — W, X, Y, Z — lần lượt được tôi chào bản đánh máy và đưa cho những biên tập viên của họ liếc qua nó, đã bị sốc bởi Lolita đến mức mà thậm chí ngài F.P., ông bạn già thận trọng của tôi, cũng không tính đến.

Mặc dù đúng là ở châu Âu cổ đại, và tận cho đến thế kỷ mười tám (những ví dụ dễ thấy đến từ nước Pháp), sự dâm tục cố ý đã không mâu thuẫn với những giây phút lóe sáng trong hài kịch, hoặc văn chương châm biếm đầy khí lực, hoặc thậm chí cảm hứng của một thi sĩ tài hoa đang trong tâm trạng phóng đãng, và cũng đúng là trong thời hiện đại thì thuật ngữ “văn hóa phẩm khiêu dâm” có nghĩa là tầm thường, hám lợi, và những quy tắc kể chuyện chặt chẽ nhất định. Hành động khiêu dâm cần cho bắt cặp với lời lẽ sáo rỗng bởi lẽ mọi kiểu tận hưởng khoái cảm mỹ học phải bị thay thế trọn vẹn bởi sự kích thích tình dục đơn giản, thứ đòi hỏi lời lẽ truyền thống để tác động trực tiếp lên bệnh nhân. Người sáng tác văn hóa phẩm khiêu dâm phải tuân thủ các quy tắc cũ kỹ và cứng nhắc để làm cho bệnh nhân của anh ta được bao bọc bởi cùng một bầu không khí thỏa mãn an toàn, bầu không khí vốn dĩ quen thuộc với những người mê truyện trinh thám — những truyện mà trong đó, nếu bạn không coi chừng, kẻ sát nhân thật sự có thể hóa ra là, trước sự phẫn uất của người hâm mộ, tính độc đáo nghệ thuật (ai mà lại muốn, tỷ như, một truyện trinh thám không có đến dù chỉ một cuộc đối thoại?) Bởi vậy, trong các tiểu thuyết khiêu dâm, hành động bị giới hạn trong sự giao cấu giữa những lời khuôn sáo. Phong cách, cấu trúc, tính hình tượng không bao giờ được phép làm sao lãng độc giả khỏi thú tính đầm ấm của anh ta. Cuốn tiểu thuyết phải bao gồm sự thay thế luân phiên những cảnh nhục dục. Những đoạn văn ở giữa phải được rút gọn lại thành những đường khâu cảm xúc, những cầu nối hợp lý có thiết kế tối giản, những giải thích và trình bày ngắn gọn, mà độc giả hầu như chắc chắn sẽ bỏ qua nhưng phải được biết là chúng có tồn tại để không cảm thấy bị lừa dối (do bị nhồi sọ từ lề thói của các chuyện thần tiên “có thật” ở thời thơ ấu). Hơn nữa, những cảnh nhục dục trong sách phải bám theo một mạch tăng dần, với những biến thể mới, những phối hợp mới, những sinh thực khí mới, và sự gia tăng đều đặn số lượng người tham gia (trong một vở kịch của Sade, họ còn gọi cả người làm vườn vào), và bởi vậy mà phần kết thúc cuốn sách phải thừa mứa tri thức dâm dật hơn hẳn các chương đầu tiên.

Một vài kỹ thuật ở phần đầu Lolita (giả dụ như Nhật Ký của Humbert) làm cho mấy độc giả đầu tiên của tôi lầm tưởng rằng đây là một cuốn dâm thư. Họ trông chờ vào chuỗi gia tăng các cảnh gợi tình; khi những cái này ngưng lại, độc giả cũng ngưng đọc luôn, và cảm thấy buồn chán và thất vọng. Tôi ngờ rằng điều này là một trong những lý do tại sao không phải tất cả bốn hãng chịu đọc bản đánh máy ấy đến cuối. Dù họ có thấy nó khiêu dâm hay không thì điều đó cũng chẳng làm tôi quan tâm. Sự khước từ của họ với việc mua sách không dựa trên cách tôi xử lý chủ đề mà dựa trên chính chủ đề, bởi có đến ít nhất là ba chủ đề tuyệt đối cấm kỵ, đến mức hầu hết các nhà xuất bản Mỹ đều lo ngại. Hai cái khác là: một cuộc hôn nhân Nhọ-Trắng lại thành công trọn vẹn và mỹ mãn và đơm hoa kết trái thành con đàn cháu đống; và kẻ vô thần tuyệt đối lại sống cuộc đời hạnh phúc và có ích, rồi chết trong lúc đang ngủ, thọ 106 tuổi.

Một số phản ứng rất tức cười: một biên tập viên gợi ý là hãng của anh ta có thể cân nhắc chuyện xuất bản nếu như tôi biến nàng Lolita của tôi thành cậu bé mười hai tuổi và để cậu ta bị dụ bởi Humbert, một gã nông dân, trong chuồng gia súc, giữa phong cảnh thê lương và cằn cỗi, mọi điều này được trình bày bằng những câu văn ngắn, mạnh, “hiện thực” (“Hắn hành động điên rồ. Tôi nghĩ là tất cả chúng ta đều hành động điên rồ. Tôi nghĩ Chúa cũng hành động điên rồ.” Và những thứ tương tự như vậy.) Mặc dù mọi người nên biết là tôi ghét cay ghét đắng những biểu tượng và phúng dụ (một phần do mối thù cũ của tôi với tà phép của Freud và một phần do nỗi kinh tởm của tôi với sự khái quát được sáng chế bởi những người sáng tác văn chương thần thoại và những nhà xã hội học), một biên tập viên sáng dạ khác đọc lướt qua Phần Một rồi miêu tả Lolita như “châu Âu già dắt nước Mỹ trẻ vào đời trụy lạc,” ấy thế mà một biên tập viên ba chớp ba nháng khác lại thấy trong nó “nước Mỹ trẻ dắt châu Âu già vào đời trụy lạc.” Ông chủ nhà xuất bản X, người có các vị cố vấn chán ngấy Humbert đến nỗi họ không bao giờ đọc được quá nửa cuốn sách, đã hồn nhiên viết cho tôi rằng Phần Hai quá dài. Mặt khác, ông chủ nhà xuất bản Y lại lấy làm tiếc, rằng không có người tốt nào trong cuốn sách. Ông chủ nhà xuất bản Z bảo, nếu ông in Lolita, thì ông và tôi sẽ đi tù.

Không có nhà văn nào ở một đất nước tự do lại cho rằng họ phải quan tâm đến ranh giới chính xác giữa gợi cảm và gợi dục; đó là điều hết sức vô lý; tôi chỉ có thể ngưỡng mộ chứ không thể ganh đua với độ chính xác trong cách nhìn của những người tạo dáng các động vật hữu nhũ trẻ trung xinh đẹp để chụp ảnh đăng lên tạp chí sao cho toàn bộ đường viền cổ áo chỉ vừa đủ thấp để khơi gợi một tiếng cười thầm của tay bưởng trưởng và vừa đủ cao để không làm ông bưu cục trưởng phải nhăn mặt. Tôi cho là, vẫn tồn tại những độc giả thấy hưng phấn với sự hiện diện các lời lẽ chợ búa trong những cuốn tiểu thuyết khổng lồ và sáo rỗng đến tuyệt vọng, những cuốn tiểu thuyết được đánh máy bằng những ngón tay cái của những kẻ tầm thường cương cứng và được đánh giá là “có ảnh hưởng lớn” và “nổi bật” bởi những tay phê bình bồi bút. Có những tâm hồn hiền hậu tuyên bố Lolita vô nghĩa do nó không dạy họ được bất cứ điều gì. Tôi chẳng phải độc giả mà cũng chẳng phải nhà văn thể loại văn chương hư cấu ra vẻ mô phạm, và, bất chấp xác nhận của John Ray, Lolita chẳng có bài học nào đi cùng. Với tôi thì một tác phẩm hư cấu chỉ tồn tại trong chừng mực nó cho tôi cái mà tôi sẽ gọi huỵch toẹt ra là khoái cảm thẩm mỹ, đó là cảm giác được — bằng cách nào đó, ở nơi nào đó — kết nối với những trạng thái khác của sự tồn tại, nơi mà nghệ thuật (sự hiếu kỳ, tính nhạy cảm, lòng nhân hậu, niềm hoan lạc) là tiêu chuẩn. Không có nhiều cuốn sách như vậy. Tất cả những cuốn còn lại hoặc là lá cải thời thượng hoặc là những thứ vẫn được một số người gọi là Văn Chương Ý Tưởng, những thứ mà trong rất nhiều trường hợp lại chính là lá cải thời thượng cô lại thành các khối thạch cao khổng lồ được truyền cẩn thận từ đời này qua đời khác cho đến khi có ai đó xông lên với cây búa và thử làm một choác ra trò lên Balzac, lên Gorki, lên Mann.

Lời cáo buộc khác mà vài độc giả áp đặt lên Lolita là nó chống Mỹ. Đây là cái làm tôi đau hơn nhiều so với lời kết tội ngu ngốc về sự đồi bại. Những cân nhắc về độ sâu và viễn cảnh (một bãi cỏ ở ngoại ô, một đồng cỏ vùng đồi núi) khiến tôi dựng được một số bối cảnh Bắc Mỹ. Tôi cần một môi trường tạo được sự phấn khích nhất định. Và chẳng có gì tạo được sự phấn khích nhiều hơn thói thô bỉ phàm tục. Nhưng, liên quan đến thói thô bỉ phàm tục thì không có sự khác biệt căn bản nào giữa phong tục tập quán của Cựu Thế Giới và Tân Thế Giới. Bất cứ người vô sản nào từ Chicago cũng có thể thành nhà tư sản (theo nghĩa của Flaubert), như bất cứ công tước Anh Quốc nào. Tôi lựa chọn các motel Mỹ thay vì các khách sạn Thụy Sĩ hoặc các nhà trọ Anh chỉ vì tôi cố gắng trở thành một nhà văn Mỹ và chỉ đòi hỏi đúng những quyền lợi mà các nhà văn Mỹ khác vẫn được hưởng. Mặt khác, tạo vật Humbert của tôi là người ngoại quốc và kẻ vô chính phủ, và có rất nhiều thứ, ngoài vấn đề nymphet, mà tôi không đồng ý với ông ta. Và tất cả những độc giả người Nga của tôi biết rằng những thế giới cũ của tôi — Nga, Anh, Đức, Pháp — cũng kỳ quái và chủ quan hệt như thế giới mới của tôi.

Vì sợ rằng tuyên bố ngắn ngủn mà tôi đưa ra ở đây có vẻ như sự giãi bày những nỗi hận lòng nào đó, nên tôi phải vội vàng bổ sung rằng, ngoài những thằng chã đọc bản đánh máy Lolita hoặc ấn bản Olympia Press của nó theo tinh thần “Sao ông ta lại phải viết nó nhỉ?” hay “Sao tôi lại phải đọc về gã điên này nhỉ?” thì vẫn có không ít người, khôn ngoan, nhạy cảm, vững vàng, hiểu cuốn sách của tôi tốt hơn nhiều so với tôi có thể giải thích cơ chế nội tại của nó ở đây.

Tôi dám nói rằng, mọi nhà văn nghiêm túc đều nhận thức về ấn bản sách này hay ấn bản sách khác của ông ta như một sự hiện diện ấm lòng thường trực. Ánh sáng dẫn đường của nó cháy đều ở nơi nào đó trong tầng hầm và chỉ một đụng chạm khẽ khàng nhất tác động lên bộ ổn nhiệt bí mật của ông ta sẽ lập tức làm ngấm ngầm bùng lên làn hơi ấm quen thuộc. Sự hiện diện này, ánh sáng rực rỡ này của cuốn sách, ở một chốn xa xôi bất cứ lúc nào cũng đến được, là cảm giác vô cùng thân thiết, và cuốn sách càng trùng khớp chính xác hơn với sắc màu và đường nét được mường tượng trước của nó thì nó càng tỏa sáng rộng hơn và đều hơn. Nhưng thậm chí như vậy, thì vẫn có những nơi chốn nhất định, những con đường phụ, những thung lũng ưa thích, những nơi tác giả gợi nhớ lại một cách háo hức hơn và tận hưởng một cách êm ái hơn phần còn lại trong cuốn sách của ông ta. Tôi không đọc lại Lolita từ khi tôi sửa chữa xong bản in thử vào mùa xuân năm 1955, nhưng giờ đây tôi thấy nó vẫn là một hiện diện dễ chịu như thể nó lặng lẽ lơ lửng quanh nhà tựa một ngày hè mà người ta biết chắc là ngời sáng đằng sau màn sương mù. Vậy nên những khi tôi nghĩ về Lolita, dường như tôi luôn lựa được cho khoái cảm đặc biệt của mình những hình ảnh thí dụ như ngài Taxovich, hoặc bản danh sách học sinh trường trung học Ramsdale ấy, hoặc Charlotte đang nói “không thấm nước,” hoặc Lolita, như trong những thước phim quay chậm, đang tiến về phía những món quà của Humbert, hoặc những bức ảnh trang hoàng tầng áp mái được cách điệu hóa của Gaston Godin, hoặc ông thợ cắt tóc ở Kasbeam (người làm tôi tốn mất một tháng làm việc), hoặc Lolita đang chơi tennis, hoặc bệnh viện ở Elphinstone, hoặc Dolly Schiller nhợt nhạt, mang thai, đáng yêu, bất khả vãn hồi, đang hấp hối ở Gray Star (thủ đô của cuốn sách), hoặc những tiếng leng keng từ thị trấn dưới thung lũng vọng lên con đường đèo (mà trên đó tôi bắt được con bướm cái đầu tiên thuộc giống Lycaeides sublivens Nabokov). Đây là hệ thần kinh của tiểu thuyết. Đây là những điểm bí mật, những tọa độ trong tiềm thức mà dựa trên chúng cuốn sách này đã được đồ nên — mặc dù tôi nhận thức được rất rõ ràng rằng những cảnh này cảnh khác sẽ bị đọc lướt qua hoặc không để ý đến, hoặc thậm chí chẳng bao giờ được đụng đến, bởi những kẻ bắt đầu đọc cuốn sách dưới ấn tượng rằng nó là cái gì đó từa tựa như “Hồi ký của Cô gái điếm” hoặc “Les Amours de Milord Grosvit.” Việc cuốn tiểu thuyết của tôi có chứa đựng nhiều ám chỉ khác nhau đến ham muốn sinh lý của một kẻ đồi trụy là hoàn toàn chính xác. Nhưng rốt cuộc thì tất cả chúng ta không phải trẻ con, không phải những phạm nhân thất học vị thành niên, không phải những nam sinh trường nội trú Anh Quốc, những kẻ sau một đêm buông thả đồng tính lại phải cam chịu cảnh ngược đời là đọc các tác giả cổ điển trong những phiên bản đã bị sàng lọc.

Thật trẻ con nếu nghiên cứu một tác phẩm hư cấu để thu lượm thông tin về một đất nước hoặc về một tầng lớp xã hội hoặc về tác giả. Tuy nhiên, một trong số rất ít bạn thân của tôi, sau khi đọc Lolita, đã tỏ ra lo lắng một cách chân thành rằng tôi (tôi!) đã phải sống “giữa những kẻ chán ngấy như vậy” — trong khi sự bất tiện duy nhất mà tôi thật sự phải trải qua là sống trong xưởng làm việc của mình giữa những cái chân cái tay bị vứt bỏ và phần thân dở dang.

Sau khi Olympia Press, ở Paris, xuất bản cuốn sách, một nhà phê bình Mỹ đưa ra giả thuyết rằng Lolita là hồ sơ ghi chép về mối tình của tôi với tiểu thuyết diễm tình. Việc thay cụm từ “tiếng Anh” vào chỗ “tiểu thuyết diễm tình” sẽ làm cho công thức tao nhã này chính xác hơn. Nhưng ở chỗ này, tôi cảm thấy giọng mình lên tới độ cao quá mức ghê tai. Không có ai trong số những người bạn Mỹ của tôi từng đọc các cuốn sách tiếng Nga của tôi và vì vậy mọi đánh giá về sức mạnh trong các cuốn sách tôi viết bằng tiếng Anh sẽ không thể rõ ràng được. Bi kịch cá nhân của tôi, cái không thể, và quả thật là không nên, trở thành mối quan tâm của bất cứ ai, là việc tôi phải từ bỏ tiếng Nga, đặc ngữ tự nhiên, không bị hạn chế, giàu có, và vô cùng dễ sai khiến của tôi để dùng thứ tiếng Anh hạng hai, thiếu vắng mọi thứ đạo cụ — gương ngăn, phông màn nhung đen, truyền thống và những liên tưởng ngầm định — mà nhà ảo thuật bản xứ, vạt áo đuôi tôm tung bay, có thể sử dụng một cách thần diệu để vượt qua được di sản cha ông theo cách riêng của mình.

12 tháng Mười Một năm 1956





27 Feb 2014

Phác Thảo Phương Án Bìa Lolita của Họa Sỹ Trương Tiến Trà


10 Feb 2014

Trang Bìa Lolita (Bản Dịch Tiếng Việt)


23 Jan 2014

"Bố Tôi Bị Ung Thư Tử Cung" Gọi "Bàn Tay Lốm Đốm Vết Men Gan" Bằng Cụ!



Ngay trang đầu Chương 11, phần II, Lolita, bản dịch của cụ Dương Tường, ngoài những lỗi hiểu sai hoàn toàn câu văn (tuy là đúng từ điển) thì có hai lỗi dịch đúng kiểu dịch bằng từ điển và sau đó là đoán mò dịch đại. Ngữ cảnh: bà Pratt, hiệu trưởng trường Lolita đang theo học, mời Humbert ghé qua để nói chuyện. Chương này chủ yếu mô tả cuộc nói chuyện giữa hai người, lưu ý là bà Pratt tiếp Humbert trong phòng làm việc của bà. Tâm trạng của Humbert: lo sợ việc ông ta sống như vợ chồng với Lolita sẽ bị bại lộ. 

1. “Sit down,” she said, pointing to an informal and humiliating hassock, 


hassock cụ dịch thành: "cái ghế úi xùi không ra ghế mà như chiếc gối quỳ trong nhà thờ" - dịch quá kém, lăng nha lăng nhăng, không ai dịch tốt mà dịch từ một chữ tiếng Anh ra nguyên một dòng dài thế cả, dịch kiểu này thì bản dịch có thể dày hơn bản gốc vài lần, và mất hết giọng văn của tác giả; và quan trọng là Hassock trong ngữ cảnh này đơn giản chỉ là cái ghế gác chân mà thôi. Nếu không hiểu thì cụ đừng có cố, dịch thành chiếc ghế thôi còn đỡ khổ cho độc giả. 

2. said Miss Pratt, showing how with her liver-spotted hands, 


liver-spotted thì cụ dịch thành lốm đồm men gan! 

"Miss Pratt nói, khua hai bàn tay lốm đốm vết men gan để minh họa." Bàn tay mà "lốm đốm vết men gan" thì kinh dị thật! Thật ra, nó chỉ là vết đồi mồi trên tay người già: "A benign, localized brownish patch on the skin, often occurring in old age and usually in fair-skinned people with sun-damaged skin. Also called age spot." mà thôi! Dịch tệ hơn cả cái máy. Đã ngu dốt không biết tiếng Anh lại còn lười tra cứu và ẩu, vô trách nhiệm với chữ nghĩa, coi thường chính bản thân mình chứ chưa nói đến độc giả! 

Và không hiểu sao lại có thể có người tự nhận là dịch giả, vậy mà đặt bút viết "bàn tay lốm đốm vết men gan" cũng không thấy run tay nhỉ! Trong cánh rừng chết chóc tối tăm rậm rịt ẩm thấp thảm đầy các lỗi dịch thuật bốc mùi vẫn được moi ra trên báo chí trong thời gian gần đây, thì Lolita của cụ Dương Tường phải nói là một cây đại thụ. 

"Lolita" của Dương Tường: Dịch Sát Từng Chữ Là Cách Tốt Nhất Để Dịch Sai Hoàn Toàn!



Lolita, cũng như các kiệt tác văn chương khác, đòi hỏi người đọc phải có những kiến thức văn hóa nền tảng nhất định, mỗi độc giả có thể cảm nhận tác phẩm chỉ ở một góc nhìn nào đó, tùy thuộc vào năng lực tư duy, vốn sống và cách nhìn cuộc sống của họ; nhưng dịch giả muốn dịch tốt thì không cỏn cách nào khác hơn là nhìn tác phẩm làm sao cho giống với cách tác giả nhìn nhất, thậm chí đôi khi còn phải nhìn sâu hơn, rộng hơn tác giả ở một số chỗ nhất định, nơi hai nền văn hóa không có điểm giao hòa, hoặc tác giả viết theo bản năng chẳng hạn. Nếu không hiểu nổi tác phẩm, dịch giả có thể làm cho bản dịch trở nên ngô nghê và đần độn đến mức không một người bình thường nào có thể hình dung được, và sẽ đẩy độc giả yếu bóng vía vào tình trạng nghi ngờ chính mình, thậm chí tự trách chính mình, và sau một thời gian phải đọc mãi các bản dịch ngô nghê, thì họ sẽ chỉ mua sách dịch để lấy bìa khoe lên facebook hay vứt lung tung trong nhà (như tôi) để khách khứa đến nhà nghĩ chủ nhà ngoài rượu ngon ra thì cũng có kha khá tâm hồn. Và có lẽ vì nắm bắt được tâm lý khách hàng, nên thời gian gần đây rất nhiều sách tiếng Việt được in bìa cực kỳ đẹp, vẽ nhăng vẽ cuội rất xinh, có thể nói theo kiểu dân dã là ăn cái gì vào bìa hết sạch! Nhiều cuốn sách được dịch tốt mà vẫn không bán được, chìm nghỉm trong đống sách xanh xanh đỏ đỏ, bướm bướm hoa hoa, cũng một phần do độc giả đã quá thất vọng với những bản dịch tệ hại mà vẫn được tung hô quá mức.

Quay về kiểu dịch nô, máy móc, bám từng chữ, mà sai từng xăng ti mét, xin dẫn chứng một ví dụ về đoạn dịch sai hoàn toàn theo kiểu này trong bản dịch Lolita của, vâng, cụ Dương Tường: 

Ngữ cảnh: Humbert đã đưa Lolita vào phòng 342 của khách sạn, đã cho cô bé uống thuốc ngủ, và ông ta đang lang thang trong khách sạn, suy nghĩ về hành động của mình. Khi đi ra ngoài cửa khách sạn, thì ông ta gặp một người đàn ông lạ ngồi trong bóng tối, lúc đó Humbert còn chưa biết đó chính là Quilty  tình địch của ông, và là người sau này sẽ cướp Lolita khỏi tay Humbert. 

Nguyên bản tiếng Anh:

Suddenly I was aware that in the darkness next to me there was somebody sitting in a chair on the pillared porch. I could not really see him but what gave him away was the rasp of a screwing off, then a discreet gurgle, then the final note of a placid screwing on. I was about to move away when his voice addressed me: 

“Where the devil did you get her?” 
“I beg your pardon?”
“I said: the weather is getting better.”
“Seems so.” 
Who’s the lassie?”
“My daughter.” 
“You lie—she’s not.” 
“I beg your pardon?” 
“I said: July was hot. Where’s her mother?” 
“Dead.”
“I see. Sorry. By the way, why don’t you two lunch with me tomorrow. That dreadful crowd will be gone by then.” 
“We’ll be gone too. Good night.” 
“Sorry. I’m pretty drunk. Good night. That child of yours needs a lot of sleep. Sleep is a rose, as the Persians say. Smoke?”
“Not now.”

Đoạn văn này là lần đối thoại đầu tiên giữa Humbert và Quilty (kẻ sau này sẽ bị Humbert giết chết), cái hay của nó nằm trong các câu văn chơi chữ hết sức tinh tế:

“Where the devil did you get her?” / "the weather is getting better.”
“You lie—she’s not.” / "July was hot"

Khi Quilty nói: “Where the devil did you get her?”, Humbert khó chịu, và hỏi lại, thì Quilty nói lái đi "the weather is getting better.”, đoạn sau cũng tương tự, điều thú vị là cả hai câu đối đáp này đều có điểm chung là nghe loáng thoáng thì giống nhau mà nghĩa khác nhau hoàn toàn. Thực ra có nhiều cách hiểu đoạn đối thoại này, có thể hiểu nó là sự kình địch giữa hai người đàn ông vì một cô bé, mà cũng có thể hiểu là do lòng Humbert đang bất an, nên ông ta nghe người khác nói gì cũng tưởng đang nói đểu mình (chứ thực sự thì Quilty cũng không có ý đó). Nabokov rất tài hoa khi sử dụng cách viết mơ ảo này để nhấn mạnh tâm trạng nhân vật. Có rất nhiều cách hiểu đoạn văn ngắn này, và độc giả có quyền hiểu theo ý họ muốn. Nhưng dịch giả phải hiểu ý nhà văn để chuyển ngữ, và cũng là để một lối đi dù hẹp, nhưng dẫu sao độc giả và tác giả vẫn có thể gặp được nhau.  

Nabokov đã chuyển ngữ hai chỗ này qua tiếng Nga (ngôn ngữ mẹ đẻ của ông) như sau:

“Как же ты её достал?” / "дождь перестал”
Врёшь — не дочь”. / "роскошная ночь."

Đoạn dịch tiếng Nga này giữ được toàn bộ dụng ý của tác giả trong bản tiếng Anh. Còn đoạn dịch dưới đây của cụ Dương Tường có thể đưa vào sách giáo khoa như một ví dụ tuyệt vời nhằm minh chứng cho quan điểm của cố Giáo Sư Cao Xuân Hạo: "Dịch sát từng chữ là cách tốt nhất để dịch sai hoàn toàn":

Đột nhiên, tôi biết trong bóng tối, ngay cạnh tôi, có ai đó đang ngồi trên một chiếc ghế trong hàng hiên có cột chống. Tôi không thực sự trông thấy hắn, nhưng điều khiến hắn bị phát lộ là một tiếng kèn kẹt vặn mở nút chai, rồi một tiếng ực kín đáo và cuối cùng là tiếng vặn xoắn đóng nút. Tôi sắp rời khỏi đó thì hắn cất giọng hỏi:

“Ma xui quỉ khiến, ông vớ đâu được con bé vậy?”
“Xin lỗi, ông nói gì?”
“Tôi nói: thời tiết đang tốt dần lên.”
“Có vẻ thế.”
“Con bé là ai?”
“Con gái tôi.”
“Ông nói dối - không phải thế.”
“Xin lỗi, ông nói gì?”
“Tôi nói: tháng Bảy vừa rồi thật nóng bức. Mẹ nó đâu?”
“Chết rồi.”
“Ra thế. Rất lấy làm tiếc. Nhân tiện, xin mời hai người dùng bữa với tôi trưa mai, được không? Giờ đó, cái đám đông gớm ghiếc này chắc đã đi khỏi.”
“Giờ ấy, chắc chúng tôi cũng đã đi rồi. Chúc ngủ ngon.”
“Rất tiếc. Tôi hơi say. Chúc ngủ ngon. Cô bé của ông cần ngủ thật nhiều. Giấc ngủ là một đóa hồng, người Ba Tư nói vậy. Hút thuốc không?”
“Lúc này thì không. ”

Đọc đoạn dịch của cụ Dương Tường, chắc chắn độc giả nào thông minh sẽ nghĩ trong ba người: Nabokov, mình, và dịch giả, ắt phải có một người, nói nhẹ nhàng là, không có cảm nhận văn chương, và nhiều khả năng là anh ấy sẽ thở dài, gấp sách lại, bật ipad lên vào xem liên xô đánh us, rồi cho là mình đã xuống cấp đến mức chỉ còn đủ trình độ đọc nổi báo mạng và chuyện ngôn tình. Thế nên nhà sách cứ phải cố gắng làm bìa sách cho đẹp là vậy. Dù sao thì sơn phết vẫn nhanh hơn là chờ đợi một cây gỗ quý lớn dần lên!  

Phụ Lục:

Ảnh chụp từ bản Lolita in trên giấy