NABOKOV

Humbert và Lolita

Phim Lolita.

Lolita

Phim Lolita

Lolita

Phim Lolita

Nabokov

Life

Lolita và Humbert

Phim Lolita

15 Jul 2015

Mất chủ quyền quốc gia trên mạng

Từ Phong

Hàng chục triệu người Việt Nam đang tự nguyện hiến dâng hầu hết thông tin cá nhân của mình cho các mạng xã hội. Điều này tạo ra những nguy cơ lớn về an ninh, về chủ quyền quốc gia. Đã đến lúc phải thay đổi.



Theo Facebook, hiện nay họ có 30 triệu người dùng tại Việt Nam (trong đó 27 triệu người dùng trên thiết bị di động).

Tính đến tháng 1.2015, lượng người Việt dùng Facebook mỗi ngày đã tăng 43% so với cùng kì năm ngoái. Về độ tuổi người dùng, có đến 3/4 người Việt dùng Facebook từ 18 - 34 tuổi. Ngoài ra, người Việt hiện dành khoảng 2 tiếng rưỡi mỗi ngày cho Facebook, gấp đôi thời gian dành để xem ti vi.

Ảnh hưởng của Facebook: từ lượng thành chất

Những con số thống kê này cho thấy ảnh hưởng ngày càng kinh khủng của Facebook nói riêng và các mạng xã hội nói chung lên cuộc sống người Việt hiện nay. Chúng ta đang bỏ những nguồn lực khổng lồ của cả dân tộc vào các hệ thống công nghệ của nước ngoài, và đóng góp đáng kể cho sự thành công của những tập đoàn trị giá hàng trăm tỉ đô la Mỹ.

Không phủ nhận những mặt tích cực của mạng xã hội lên đời sống từng cá nhân và cả xã hội, nhờ có nó mà chúng ta có thể giữ được quan hệ với bạn bè, tìm kiếm các mối quan hệ mới, gặp lại những người cũ, dù chỉ trên không gian ảo. Và cũng nhờ nó mà nhiều vấn đề đã được khơi lên trong cộng đồng để rồi tạo sự thay đổi theo chiều hướng tốt hơn, chẳng hạn như chất lượng các bản dịch văn học tại Việt Nam. Sau khi cư dân Facebook lên tiếng về các thảm họa dịch thuật, thì giới chuyên môn và các nhà sách đã phải cẩn trọng hơn, phải thu hồi và sửa chữa các bản dịch lỗi.

Tuy nhiên, những mặt trái của mạng xã hội cũng làm chúng ta phải e ngại. Mới đây, một cô gái trẻ đã tự tử do không chịu nổi những lời đàm tiếu trên Facebook sau khi bị người yêu tung đoạn video quay cảnh nhạy cảm giữa hai người lên mạng. Một nhà khoa học đã phải mất nhiều ngày giải thích về bằng tiến sỹ khoa học của mình trước những tấn công vu cáo ông.

Những bài viết tràn ngập trên mạng hằng ngày đả kích các lãnh đạo đất nước, phỉ báng vĩ nhân, thậm chí là kích động hằn thù dân tộc. Rất nhiều thông tin không thể kiểm chứng và từ những nguồn không tin cậy đã làm cho thành viên Facebook hoang mang và nhiều khi dẫn đến các phản ứng tập thể mù quáng, mà những trường hợp điển hình nhất gần đây thuộc về dự án sân bay Long Thành, thay cây xanh và thiết kế đường tàu trên cao tại Hà Nội. Bất chấp các ý kiến chuyên gia và quan điểm của những người có trách nhiệm, vẫn có một phần đám đông trên Facebook không thôi hoài nghi về tính hợp lý cùng những mặt tích cực của các dự án này.

Sự tự do gần như tuyệt đối cùng tính vô danh tương đối của xã hội Facebook đã tạo ra sự bình đẳng giả tạo về mặt thông tin. Người ta không còn phân biệt được sự khác nhau giữa các ý kiến chuyên môn của một giáo sư toán với một cậu sinh viên, giữa một chuyên gia danh tiếng trong ngành hàng không với một kỹ sư nông nghiệp về hưu nào đó.

Chứng nghiện Facebook

Theo kết quả một thăm dò ý kiến trên một tờ báo lớn, có đến 47,9% người tham gia cho rằng “người dùng đã chia sẻ quá nhiều thứ không cần thiết trên Facebook”, 34,5% cho rằng “người dùng lãng phí thời gian trên Facebook”. Tại sao rất nhiều người bỏ thời gian quý báu của mình cho Facebook, mặc dù chính họ cũng phải công nhận rằng tuyệt đại đa số thời gian ấy là vô nghĩa, hoặc chí ít thì cũng không đem lại lợi ích vật chất hay tinh thần nào nhiều hơn so với khi họ dành chúng cho đời thực?

Câu trả lời có thể tìm thấy qua bản chất của chiến lược kinh doanh mà các chuyên gia gọi là tiếp thị Skinner, lấy theo tên nhà khoa học nổi tiếng trong ngành tâm lý học hành vi. Trong thí nghiệm của mình, Burrhus Frederic Skinner đã cho một con chuột vào chiếc lồng có một cái đĩa không, một cần gạt, bóng đèn và loa; mỗi khi loa phát âm thanh hay bóng đèn bật sáng, thì chuột có thể nhận được thức ăn trên đĩa nếu nhấn vào cần gạt. Thực tế cho thấy chuột học được ngay cách gạt cần để nhận thức ăn theo các tín hiệu âm thanh và ánh sáng của chủ.


Hầu hết các mạng xã hội thành công đều xây dựng đế chế của mình dựa theo phát hiện này của Skinner: các icon trên Facebook sẽ đổi màu, nhấp nháy, máy tính sẽ phát tín hiệu âm thanh quen thuộc khi có tin nhắn mới, khi có feed mới, khi có email mới, khi có tin tức mới; và khi người dùng mở trang web lên sẽ nhận được “phần thưởng”, dù cho họ có thích hay không cái gọi là “phần thưởng” ấy. Đó cũng là nguyên nhân làm cho các cô bé cập nhật ảnh mới liên tục, các cậu bé ngồi lì hàng ngày trên Facebook, các ông già về hưu viết hàng chục status hằng ngày để nhận được like của những người xa lạ. Không khó hình dung sự liên hệ giữa các dụng cụ thí nghiệm với các công cụ trên trang web của Facebook.

Sau một thời gian nhất định gia nhập vào cộng đồng mạng, con người bị rơi vào ảo giác rằng họ sẽ phải thường xuyên mở trang web lên nếu không muốn bỏ lỡ điều gì đó, và thời gian họ dành cho mạng xã hội ngày càng tăng, tới mức họ không còn phân biệt được cuộc sống thật và ảo nữa. Có những người có 5.000 bạn trên Facebook và hàng chục ngàn follower (người theo dõi), nhưng đám tang họ thì lạnh lẽo ở quê với vài ba bạn học từ thời thơ ấu, khi chưa ai biết máy tính cá nhân là gì.
Nói cách khác, ngày nay máy tính đã là chiếc lồng Skinner hiện đại, và mạng xã hội, trên phương diện nào đó, là một nhà máy khổng lồ với hàng tỉ chiếc lồng như thế.

Có phải Facebook được chào đón ở mọi nơi?

Thực ra Facebook không hiền lành vô tội như nụ cười của ông chủ tỷ phú của nó. Không ngẫu nhiên mà một số quốc gia cấm sử dụng mạng xã hội nước ngoài. Việc người dùng dành quá nhiều thời gian cho mạng, lưu trữ quá nhiều thông tin cá nhân trên mạng, và thậm chí trao đổi các thông tin nhạy cảm trên mạng, có thể làm cho ông chủ của kho dữ liệu khổng lồ ấy có được quyền lực khổng lồ với đời sống hàng tỉ công dân nước khác.

Ngày nay, việc mất quyền kiểm soát với dữ liệu cá nhân của công dân cũng là mất một phần chủ quyền quốc gia. Có thể nói rằng, phần lớn người dân hiện nay sợ mất kết nối với Facebook và Google còn hơn là mất nước, mất điện, kẹt xe hay thiếu thức ăn. Kết nối với internet đã trở thành nhu cầu cơ bản nhất, thấp nhất, và cũng là quan trọng nhất của tháp nhu cầu Maslow.



EU gần đây liên tục lên tiếng yêu cầu các mạng xã hội phải đảm bảo tính riêng tư của người sử dụng, phải cho phép họ xóa vĩnh viễn các dữ liệu cá nhân. Điều nguy hiểm hơn nữa là, thông qua việc sử dụng các cookie, Facebook theo dõi các hoạt động duyệt web của người dùng ngay cả khi họ không có tài khoản Facebook, hay đã hủy tài khoản, đăng xuất ra khỏi trang hoặc tắt chức năng quảng cáo trực tuyến. Điều này vi phạm luật pháp EU. Người dùng bị Facebook theo dõi khi họ sử dụng nút "like" được đặt trên hơn hàng triệu trang web bao gồm cả các trang của chính quyền và ngành y.

Những quan ngại của EU không phải là cá biệt. Các nhà chính trị đã thấy rằng rất nhiều điều luật cần phải sửa đổi để phù hợp với phát triển vũ bão của công nghệ. Và đã có nhiều chuyên gia cảnh báo về viễn cảnh khủng khiếp - khi thế giới bị hủy diệt bởi một hệ thống mạng xã hội biết tự tiến hóa và vượt ra khỏi tầm kiểm soát của chính con người, như trong phim Terminator Genysis. Mặc dù hiện nay chuyện đó chỉ có thể xảy ra trong các tác phẩm khoa học viễn tưởng, nhưng thực ra cũng mới chỉ chừng 10 năm trước đây, không ai trong chúng ta có thể hình dung về việc con người sẽ tiêu tốn hầu hết thời gian của mình trên mạng, và lưu trữ hầu hết cuộc đời mình trên mạng như hiện nay. Vậy nên, rất nhiều thứ khó tưởng tượng nổi cũng có thể đến trong vòng 10 năm tới.

Hành động nào của chúng ta?

Có lẽ đã quá muộn để bàn về một mạng xã hội của riêng Việt Nam. Vả lại, trình độ công nghệ cũng chưa bao giờ cho phép chúng ta làm được điều ấy. Việc xử lý khối lượng thông tin khổng lồ trong thời gian thực đòi hỏi những công nghệ phức tạp hơn rất nhiều so với chúng ta hình dung qua gương mặt hiền lành và đơn sơ của Google hoặc Facebook.

Tuy nhiên, nếu cứ phát triển nhanh như hiện nay, thì rất có thể sẽ đến lúc có cả trăm triệu người Việt dành trung bình mỗi ngày 8 tiếng để vào Facebook. Và viễn cảnh ấy thực sự đáng lo ngại. Để người dân không lãng phí thời gian của mình trên mạng vào việc đào bới thông tin làm giàu cho các ông chủ bên kia bờ đại dương, và không bị kích động định kỳ theo tâm lý đám đông bằng những hình ảnh cực đoan trên mạng, có lẽ cần đến những thay đổi căn bản về luật và cách tiếp cận vấn đề.

Nếu chỉ nghĩ đến việc kiểm soát các tài khoản Facebook cá nhân và nghiêm trị các hành vi phạm pháp trên mạng thì rất khó giải quyết vấn đề. Bởi lẽ kẻ nắm quyền sinh sát với hàng triệu tài khoản Facebook Việt Nam lại không chịu kiểm soát của pháp luật Việt Nam. Và do mạng xã hội không có biên giới, cho nên rất khó có cơ sở pháp lý để xử lý những tài khoản mạng mặc dù được viết bằng tiếng Việt và chỉ hướng đến khách hàng người Việt, nhưng lại được đăng ký và sử dụng hoàn toàn ở nước ngoài. Về lâu dài thì không thể kiểm soát những thứ mà chúng ta hoàn toàn không có quyền truy cập vào cơ sở dữ liệu.

Có lẽ chúng ta nên tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác, và tìm ra mô hình hợp tác hai bên cùng có lợi với các mạng xã hội. Và nên yêu cầu họ, ngoài việc kiếm lợi cho mình, phải có những hợp tác tích cực về mặt an ninh thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, và kiểm soát các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam trên hệ thống của họ. Chủ quyền trên không gian mạng không còn là chuyện gì đó xa xôi, huyễn tưởng nữa, mà đã là yêu cầu cấp thiết, trước khi quá trễ. Vì có lẽ chúng ta sẽ chẳng có cơ hội cử ai đó quay lại quá khứ để thay đổi cái ngày mà mạng xã hội được cho phép hoạt động tự do tại Việt Nam.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên: 
http://www.thanhnien.com.vn/toi-viet/mat-chu-quyen-quoc-gia-tren-mang-583558.html

25 Jun 2015

Chị em nhà Vane

Chị em nhà Vane



Vladimir Nabokov
Thiên Lương dịch

Bản dịch đã đăng trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội số 823
Bản quyền bản dịch thuộc về dịch giả.

I

Có lẽ tôi không bao giờ được biết về cái chết của Cynthia, nếu tôi, đêm ấy, không đụng mặt D., người mà tôi cũng đã mất dấu trong khoảng bốn năm gần đây; và có lẽ tôi không bao giờ đụng mặt D. nếu tôi không bị cuốn vào một chuỗi điều nghiên tầm phào.

Hôm ấy, Chủ Nhật ăn năn sau cả tuần bão tuyết, là một ngày nửa ngọc, nửa bùn. Giữa cuộc đi dạo chiều chiều qua sơn trấn nhỏ gắn liền với trường cao đẳng nữ sinh nơi tôi dạy văn học Pháp, tôi đã dừng chân ngắm họ nhà băng nhũ sáng chói nhỏ nước giọt giọt từ mái chìa của ngôi nhà khung gỗ. Hình bóng nhọn đầu của chúng mới rõ nét làm sao trên các tấm ván trắng phía sau, đến nỗi tôi đã chắc chắn rằng bóng những giọt rơi cũng hữu hình. Nhưng không thấy chúng đâu. Có lẽ do mái nhà nhô ra quá xa, hoặc góc nhìn không đúng, hoặc, lần nữa, tôi lại không thể nhìn đúng cột băng nhũ thích hợp khi giọt nước thích hợp rơi xuống. Có một nhịp điệu, một sự luân phiên trong việc nhỏ giọt làm tôi thấy bị chọc tức như trò ảo thuật với đồng xu. Điều ấy dẫn tôi đi xem xét kỹ lưỡng các góc cạnh của vài khối nhà, và đưa tôi đến Kelly Road, ngay ngôi nhà nơi D. từng sống khi anh ta làm trợ giảng ở đây. Và trong khi tôi nhìn lên mái chìa của ga-ra sát ngay đấy với sự phô bày trọn vẹn các thạch nhũ trong suốt được lót phông nền bằng hình bóng xanh lam của chúng, cuối cùng tôi cũng được ban thưởng, lúc chọn một cây, bởi việc nhìn thấy cái có thể được miêu tả như dấu chấm của dấu than đang rời vị trí thông thường của mình để tuột xuống rất nhanh — nhanh hơn đôi chút so với giọt băng tan mà nó đua cùng. Nhấp nháy kép ấy thật thú vị nhưng không làm thoả mãn trọn vẹn; hoặc đúng hơn, nó chỉ làm sâu sắc thêm nỗi thèm muốn của tôi với những miếng sáng và tối ngon lành khác, rồi tôi nhập vào trạng thái nhận thức nguyên sơ, một trạng thái dường như biến toàn bộ bản thể tôi thành một nhãn cầu lớn đảo trong hốc đời.

Qua hàng mi đuôi công, tôi nhìn thấy ánh tà dương phản chiếu lóng lánh chói mắt tựa kim cương trên mui cong của chiếc ô tô đang đậu. Vạn vật được hoàn trả cảm quan hình ảnh sống động bởi sự tẩy rửa của tuyết tan trong tiết trời ấm áp. Nước tràn lên nhau lớp này lớp khác như những tràng hoa chảy xuống con phố dốc và yêu kiều chuyển hướng qua phố khác. Với một âm hưởng quyến rũ giả tạo vô cùng mong manh, lối đi hẹp giữa các tòa nhà để lộ ra kho báu của gạch và màu đỏ tía. Lần đầu tiên tôi để ý thấy các máng sáo khiêm nhường — tiếng vọng cuối cùng của đường xoi trên thân cột — trang trí cho thùng rác, và tôi cũng nhìn thấy gợn sóng trên nắp nó — các đường tròn tỏa rộng từ một trung tâm cổ xưa đến phi thường. Những hình dáng dựng đứng, đầu-đen của các đống xác tuyết (bị lưỡi hái xe ủi bỏ lại từ thứ Sáu vừa qua) được sắp thành hàng, như những con chim cánh cụt mới phôi thai, dọc theo lề đường, ngay trên dòng chảy dào dạt lấp lánh của các rãnh nước sống động.

Tôi đi lên, tôi đi xuống, tôi đi thẳng về phía bầu trời đang êm đềm tắt nắng, cuối cùng thì chuỗi sự vật được quan sát và đang quan sát đã đưa tôi, vào giờ ăn thường lệ, đến con phố cách xa nơi tôi vẫn thường dùng bữa đến nỗi tôi quyết định thử một nhà hàng nằm ngay vùng ven thị trấn. Màn đêm đã buông xuống không tiếng động mà cũng chẳng cần nghi lễ nào khi tôi lại bước ra ngoài. Con ma gầy nhẳng, chiếc bóng giãn dài mà trụ phí đậu xe buông xuống mặt tuyết ẩm thấp nào đó, nhuốm màu hung hung là lạ; tôi phát hiện ra điều này nhờ ánh sáng nâu đỏ của biển hiệu nhà hàng treo phía trên vỉa hè; và đúng lúc ấy — khi tôi tha thẩn nơi đó, phần nào mệt mỏi tự hỏi liệu trên đường cuốc bộ quay về tôi có thể đủ may mắn để tìm thấy cũng bóng ma ấy trong ánh xanh neon hay không — đúng lúc ấy thì một chiếc ô tô lạo xạo dừng bánh ngay gần tôi, và D. vừa bước ra ngoài vừa thốt lên một thán từ giả bộ vui mừng.

Anh đang đi, trên đường từ Albany đến Boston, qua thị trấn mà trước đây anh đã từng cư ngụ, và đây không phải lần đầu tiên trong đời mình, tôi cảm thấy cú đâm dị cảm ấy, cú đâm mà tiếp theo sau là một cơn bực tức cá nhân phản kháng những lữ khách, những kẻ dường như hoàn toàn chẳng cảm thấy gì khi thăm lại các nơi chốn lẽ ra phải làm họ xao xuyến tại từng bước chân bằng những ký ức than van và quằn quại. Anh dẫn tôi quay lại cái quán mà tôi vừa mới rời đi, và sau cuộc trao đổi thường lệ toàn những lời vô vị vui vẻ thì đến khoảng trống không thể tránh được mà anh lấp đầy bằng những lời tình cờ: “À này, tôi chưa bao giờ nghĩ tim Cynthia Vane có vấn đề gì cả. Luật sư của tôi vừa báo tin là cô ấy chết tuần trước.”


II

Anh vẫn trẻ trung, vẫn thô lỗ, vẫn quỷ quyệt, vẫn vợ chồng với một phụ nữ hiền lành, đẹp thanh nhã, chưa bao giờ được biết hoặc nghi ngờ bất cứ điều gì về chuyện tình thảm khốc của anh với cô em cuồng loạn của Cynthia, cô gái mà, đến lượt mình, chẳng biết chút gì về cuộc nói chuyện riêng mà tôi đã có với Cynthia khi cô đột ngột mời tôi đến Boston để bắt tôi thề rằng tôi sẽ nói chuyện với D. và “tống cổ” anh ta nếu anh ta không thôi gặp Sybil ngay — hoặc không ly dị vợ (người mà cô bất ngờ hình dung qua lăng kính nói năng rồ dại của Sybil như một mụ đàn bà lăng loàn xấu ma chê quỷ hờn). Tôi đã dồn anh ta vào chân tường ngay lập tức. Anh ta nói chẳng có gì đáng lo cả — anh đã quyết, dẫu có thế nào, xin thôi việc ở trường và cùng vợ chuyển đi Albany, nơi anh ta sẽ làm việc trong hãng của cha mình; và toàn bộ vấn đề, vốn đe doạ trở thành một trong những tình huống rối rắm vô vọng nhùng nhằng hàng năm, với đám bạn thiện chí bên ngoài không ngừng bàn cãi về nó mà vẫn giữ bí mật chung — và thậm chí xây dựng, giữa chính họ, những mối quan hệ gần gũi dựa trên nỗi đau người khác — đi đến kết thúc bất ngờ.

Tôi nhớ hôm sau tôi ngồi tại cái bàn kê cao của mình trong giảng đường lớn, nơi kỳ kiểm tra giữa năm môn Văn học Pháp được tổ chức ngay hôm trước vụ tự tử của Sybil. Em bước vào trên đôi giày cao gót, cùng chiếc va ly, ném phịch nó xuống góc nhà nơi vài chiếc túi khác đang chất đống, với chỉ một cái nhún vai, tuột chiếc áo choàng lông thú khỏi đôi vai gầy, phủ nó lên va ly của mình, và cùng hai hay ba cô gái khác dừng bước trước bàn tôi để hỏi khi nào tôi sẽ gửi thư báo điểm cho họ. Tôi sẽ mất một tuần, bắt đầu từ ngày mai, tôi nói, để đọc những thứ này. Tôi cũng nhớ là đã tự hỏi rằng không biết D. đã báo cho em biết về quyết định của mình hay chưa — và tôi thấy thật đau lòng với cô sinh viên nhỏ biết vâng lời của tôi do suốt 150 phút tôi cứ quay lại chăm chú nhìn em, mảnh khảnh một cách trẻ con làm sao trong bộ đồ xám ôm sát người, và cứ quan sát mái tóc sẫm màu uốn cẩn thận ấy, chiếc mũ nhỏ ấy, chiếc mũ in-hoa-nhỏ với tấm mạng nhỏ trong suốt như người ta vẫn đội mùa ấy, và bên dưới nó, gương mặt nhỏ nhắn của em bị chia cắt theo kiểu lập thể bởi các vết sẹo do một căn bệnh về da, được che đậy một cách cảm động bởi màu da rám nắng nhân tạo làm nét mặt em cứng đờ, và các nét quyến rũ của nó còn bị em làm tổn hại thêm bằng việc tô vẽ mọi thứ có thể tô vẽ được, đến nỗi nướu răng nhợt nhạt giữa đôi môi nứt nẻ màu đỏ cherry và màu mực xanh nhạt của đôi mắt em dưới hàng mi thẫm màu là những khe hở duy nhất cho phép nhìn vào sắc đẹp của em.

Hôm sau, lúc đang sắp xếp các cuốn tập xấu xí theo thứ tự bảng chữ cái, tôi đắm mình vào đống chữ viết tay hỗn độn và sớm rờ đến Valevsky với Vane, vở của họ không biết làm sao lại bị tôi chuyển nhầm chỗ. Valevsky nắn nót viết có vẻ dễ đọc cho dịp này, nhưng bài làm của Sybil để lộ ra sự phối hợp thường lệ của vài bàn tay quỷ. Em bắt đầu bằng cây bút chì rất nhạt màu, rất cứng, viết hằn rõ lên trang sau nhem nhuốc, nhưng để lại rất ít giá trị lâu bền trên mặt trước tờ giấy. Cũng may đầu bút gẫy sớm, và Sybil tiếp tục viết bằng cây bút chì khác, thẫm màu hơn, từ từ nguệch ngoạc thành những đường dày không rõ nét của cái gì đó nhìn gần giống như chì than, thêm vào đó, bằng cách mút cái đầu cùn, em đóng góp chút vết son môi. Bài em làm, mặc dù thậm chí còn nghèo nàn hơn tôi mong đợi, vẫn mang mọi dấu hiệu của một thứ từa tựa như sự tận tâm tuyệt vọng, với những đường gạch dưới, đổi chỗ, những chú thích chân trang không cần thiết, như thể em chú tâm gom góp các thứ theo cái cách đứng đắn nhất có thể. Sau đó, em mượn cây bút máy của Mary Valevsky và thêm vào: “Cette examain est finie ainsi que ma vie. Adieu, jeunes filles! Xin ông, Monsieur le Professeur, liên hệ ma soeur và nói với chị ấy rằng Chết không tốt hơn bị Điểm không, nhưng dứt khoát là tốt hơn Sống không D.”

Tôi gọi cho Cynthia ngay lập tức, cô cho tôi hay là mọi chuyện đã chấm dứt rồi — mọi chuyện đã chấm dứt từ lúc tám giờ sáng — và xin tôi mang tờ ghi chép ấy đến cho cô, rồi khi tôi mang đến, cô rạng rỡ cười qua nước mắt với sự ngưỡng mộ đầy kiêu hãnh dành cho việc dùng từ kì quái (“Thật giống cô ấy!”) mà Sybil đã tìm ra cho kỳ kiểm tra môn Văn học Pháp. Trong chớp mắt, cô “xử đẹp” hai ly cối uýt-ky pha xô-đa, mà vẫn không lúc nào rời cuốn tập của Sybil — đến lúc này đã bị rưới đầy xô-đa với nước mắt — và tiếp tục nghiên cứu tin báo tử ấy, khiến tôi, ngay lúc đó, chỉ ra cho cô thấy những lỗi ngữ pháp trong đó và giải thích cách mà từ “phụ nữ” được dịch ở các trường cao đẳng Mỹ sao cho sinh viên không thể ngây thơ bàn tán quanh từ “gái” tương đương trong tiếng Pháp, hoặc tệ hơn. Những điều khá tầm thường vô vị này lại làm Cynthia rất đỗi hài lòng lúc cô nhỏm dậy, thở hổn hển, trên bề mặt phập phồng của nỗi đau. Sau đó, giữ chặt cuốn tập mềm nhẽo ấy như thể nó là một thứ từa tựa như cuốn hộ chiếu để vào được chốn thiên đường tình cờ nào đó (nơi đầu bút chì không bị gẫy và một nhan sắc trẻ đẹp mơ màng với làn da không tỳ vết quấn món tóc quanh ngón tay trỏ mơ màng, trong lúc em trầm ngâm trên bài kiểm tra thần tiên nào đó), Cynthia đưa tôi lên gác, vào căn phòng ngủ nhỏ lạnh lẽo, chỉ để cho tôi xem, như thể tôi là cảnh sát hoặc tay hàng xóm cảm thông người gốc Ai Len, hai lọ thuốc rỗng không và chiếc giường bừa bộn mà từ đó, tấm thân non mềm, không ai cần đến, mà D. hẳn là tường tận đến ngóc ngách nhung lụa cuối cùng, đã bị chuyển đi.

III

Quãng bốn hay năm tháng sau khi Sybil chết, tôi bắt đầu gặp Cynthia khá thường xuyên. Đến lúc tôi đi New York vì công việc nghiên cứu nào đó vào dịp nghỉ lễ trong Thư viện Công cộng thì cô cũng chuyển đến thành phố ấy, nơi mà vì lý do kỳ quái nào đó (tôi cho là có mối liên hệ mơ hồ với các mô-típ nghệ thuật) cô đã thuê cái mà những người, miễn dịch với chứng sởn gai ốc, gọi là căn hộ “nước đá”, ở mức thấp của những con phố dọc ngang thành phố. Điều hấp dẫn tôi không phải là điệu bộ của cô, mà tôi nghĩ là hoạt bát phát tởm, cũng không phải vẻ ngoài của cô, mà những người đàn ông khác nghĩ là nổi bật. Cô có đôi mắt cách xa nhau rất giống mắt em cô, màu xanh lơ hoảng sợ, ngay thật, với các điểm thẫm màu phân bố xuyên tâm. Khoảng giữa đôi lông mày đen rậm của cô lúc nào cũng bóng lưỡng, và cả vành mũi nung núc thịt của cô cũng bóng lưỡng. Mô biểu bì thô kệch của cô nhìn gần giống như của đàn ông, và, dưới ánh đèn khắc nghiệt của căn phòng, bạn có thể nhìn thấy các lỗ chân lông trên gương mặt ba-mươi-hai-tuổi của cô thao láo nhìn bạn tựa như thứ gì đó trong bể cá. Cô dùng mỹ phẩm cũng say mê hệt như em gái cô đã từng, nhưng với sự cẩu thả phụ thêm vào làm cho những chiếc răng cửa to tướng của cô dính chút son môi. Cô có nước da ngăm ngăm dễ thương, mặc những bộ đồ được phối cũng không đến nỗi quá vô vị từ những món quần áo hỗn tạp khá trang nhã, và có thân hình có thể gọi là ưa nhìn; nhưng mọi thứ thuộc về cô đều dơ dáy lạ lùng, theo cái phong cách làm tôi mù mờ liên kết với sự hăng hái cánh tả trong chính trị và những thứ “tiên phong” tầm thường trong nghệ thuật, dẫu cho, trên thực tế, cô không quan tâm đến cả hai. Kiểu tóc uốn quăn của cô, dựa trên cơ sở rẽ-ngôi-và-búi-lại, có lẽ nhìn hoang dã và kỳ quái nếu nó không bị làm cho “nội trợ” hoá hoàn toàn bởi chính sự bù xù mềm mại tại cái gáy dễ bị tổn thương. Móng tay cô được vẽ loè loẹt, nhưng bị cắn nham nhở và không được sạch sẽ. Các tình nhân của cô bao gồm một nhiếp ảnh gia trẻ tuổi ít nói với nụ cười bất thình lình và hai người đàn ông lớn tuổi hơn, hai anh em, chủ cơ sở in ấn nhỏ bên kia phố. Tôi thấy ngạc nhiên với khiếu thẩm mỹ của họ mỗi khi tôi, kín đáo rùng mình, thoáng thấy những vệt lông đen lộn xộn phơi ra suốt dọc cẳng chân nhợt nhạt của cô qua lớp ni lông bít tất với sự minh bạch khoa học của một tiêu bản bị làm bẹt dí dưới tấm kính; hoặc khi tôi cảm thấy, tại mỗi chuyển động của cô, thứ mùi ảm đạm, ôi thiu, không đặc biệt dễ thấy nhưng phát tán khắp nơi và rất phiền toái mà thịt da ít khi tắm rửa của cô toả ra từ dưới các loại nước hoa và kem trang điểm mệt rã rời.

Cha cô đã nướng vào cờ bạc cả gia tài kha khá, và ông chồng đầu của mẹ cô là người gốc Xla-vơ, tuy vậy Cynthia Vane lại thuộc về một dòng họ tốt, đáng kính. Trong chừng mực mà chúng tôi biết, có lẽ nó có nguồn gốc liên quan đến các vị vua chúa và thầy bói trong màn sương mù ở những hòn đảo nơi tận cùng trái đất. Di cư qua thế giới mới hơn, qua phong cảnh của những cái cây phải chịu kiếp đoạ đày, trút lá đẹp lộng lẫy, tổ tiên của cô cả thảy là, vào một trong những giai đoạn đầu tiên, một đám nông dân ngồi vừa kín ngôi nhà thờ trắng tương phản với nền mây giông đen kịt, và sau đó là một hàng oai phong lẫm lẫm toàn các thị dân theo nghiệp buôn bán, cũng như một số học giả, giống như Tiến sỹ Jonathan Vane, một người hốc hác và sầu thảm (1780-1839), đã bỏ mạng trong trận hoả hoạn trên tàu hơi nước Lexington để sau này trở thành khách hàng quen thuộc của bàn cầu cơ nhà Cynthia. Tôi luôn có mong muốn đảo ngược phả hệ, và ở đây tôi có cơ hội làm thế, bởi lẽ đây là hậu duệ cuối cùng, Cynthia, và chỉ mình Cynthia, là người sẽ còn có chút ý nghĩa nào đó trong triều đại nhà Vane. Dĩ nhiên tôi đang ám chỉ đến năng khiếu nghệ thuật của cô, đến những bức vẽ thú vị, vui tươi, nhưng không nổi tiếng lắm, mà các bạn của bạn cô thỉnh thoảng vẫn mua — và tôi tha thiết muốn biết nơi chúng sẽ đến sau khi cô chết, những bức vẽ chân thật và nên thơ ấy, những thứ vẫn làm bừng sáng phòng khách của cô — các hình ảnh chi tiết đến ngạc nhiên về những món đồ kim loại, và cái tôi ưng nhất, Nhìn Qua Kính Chắn Gió — một tấm kính chắn gió bị sương muối che phủ một phần, với tia nước sáng chói (từ mui xe tưởng tượng) cắt ngang phần trong suốt của nó và, xuyên qua tất cả là, ánh trời xanh ngọc cùng cây linh sam xanh lục và trắng tinh.

IV

Cynthia có cảm giác rằng đứa em gái quá cố hoàn toàn không hài lòng về cô — do đến lúc này đã phát hiện ra rằng cô với tôi từng kết hợp lại để phá chuyện tình của em; vì vậy, để làm vong hồn em nguôi giận, Cynthia trở lại một kiểu cúng tiến khá nguyên thuỷ (tuy nhiên vẫn đượm vẻ hài hước của Sybil), và bắt đầu gửi đến địa chỉ làm việc của D., vào những ngày không cố định một cách cố ý, các vật mọn như ảnh chụp mộ Sybil dưới ánh sáng yếu ớt; những đoạn cắt từ chính tóc cô, mái tóc không thể phân biệt được với tóc Sybil; tấm bản đồ chia vùng của New England với một dấu thập tô mực, ngay giữa hai thị trấn trinh bạch, để đánh dấu nơi D. và Sybil đã dừng chân vào ngày hai mươi ba tháng Mười, giữa thanh thiên bạch nhật, tại một motel khoan dung, trong cách rừng hồng và nâu; và, hai lần, một con chồn hôi nhồi lông.

Là người đối thoại lắm lời hơn là thẳng thắn, cô chưa từng diễn tả được trọn vẹn cái lý thuyết về các tinh anh xen ngang mà bằng cách nào đó cô đã đúc kết ra. Về cơ bản thì chẳng có gì đặc biệt mới mẻ quanh tín ngưỡng riêng tư của cô bởi lẽ nó giả định trước một cõi âm khá tầm thường, một nhà tắm nắng yên lặng của các linh hồn bất tử (được kết nối với nhau bằng tổ tiên đã khuất), mà trò tiêu khiển chính của họ gồm có việc bay lượn định kỳ trên những người thân còn sống. Điểm thú vị ở đây là cái khuynh hướng thực dụng hiếu kỳ mà Cynthia đưa vào phép siêu hình nhạt nhẽo của mình. Cô tin chắc rằng sự tồn tại của cô bị ảnh hưởng bởi mọi thể loại bạn bè đã chết mà từng người trong bọn họ thay phiên nhau chi phối số phận cô như thể cô là mèo con lạc lối được một nữ sinh đi ngang qua nhặt lên, áp vào má, và cẩn thận đặt lại xuống đất, gần bờ giậu ngoại ô nào đó — và ngay sau đó được vuốt ve bởi bàn tay vội vàng khác hoặc bị mang đến thế-giới-cửa bởi quý bà mến khách nào đó.
 
Trong vài giờ, hoặc vài ngày liên tiếp, và đôi khi trở đi trở lại, theo một chuỗi không đều đặn, trong nhiều tháng hoặc nhiều năm, bất cứ chuyện gì xảy đến với Cynthia, sau khi một người nhất định nào đó qua đời, sẽ, cô nói, do thói tật và tâm trạng của người ấy. Sự kiện có thể lạ thường, làm thay đổi dòng đời người ta; hoặc nó có thể là một xâu rắc rối lặt vặt chỉ vừa đủ sáng tỏ để nổi bật lên trên nền một ngày thường và sau đó nhạt dần vào những chuyện linh tinh vẫn còn mơ hồ trong lúc tinh anh từ từ phai mờ. nh hưởng có thể tốt hoặc xấu; cái chính là nguồn gốc của nó có thể nhận biết được. điều này tựa như đi xuyên qua tâm hồn con người, cô nói. Tôi thử tranh luận rằng có thể cô không phải lúc nào cũng có năng lực xác định nguồn chính xác bởi lẽ không phải tất cả mọi người đều có một linh hồn có thể nhận ra được; rằng những lá thư vô danh và quà Giáng sinh có lẽ đã được người nào đó gửi đi; rằng, trong thực tế, cái mà Cynthia gọi là “ngày thường” có thể chỉ là dung dịch loãng của những tinh anh ô hợp hoặc đơn giản là vụ đổi ca thường lệ của một thiên thần bảo vệ buồn chán. Thế còn Chúa thì sao? Liệu những người vẫn phẫn uất với bất cứ nhà độc tài quyền lực vô biên nào trên trái đất có mong ngóng một kẻ như thế trên thiên đàng hay không? Còn chiến tranh thì sao? Một ý tưởng mới khủng khiếp làm sao — các binh lính đã chết vẫn chiến đấu với những kẻ còn sống, hoặc những đạo quân ma cố gắng thắng nhau bằng được suốt cuộc đời các cụ già tàn tật.

Nhưng Cynthia vượt lên trên tính phổ quát cũng như cô đã qua phía bên kia logic. “à, đây là Paul,” cô sẽ nói vậy khi món súp sôi tràn ra ngoài đầy thù hận, hoặc “tôi đoán là Betty Brown tốt bụng đã qua đời” khi cô trúng thưởng chiếc máy hút bụi tuyệt đẹp và rất cần thiết trong cuộc sổ xố từ thiện. Và, cùng kiểu nói năng loanh quanh luẩn quẩn của Henry James làm cho tâm trí Pháp của tôi cáu điên lên, cô sẽ quay lại thời gian khi Betty với Paul chưa qua đời, kể cho tôi nghe về cơn mưa quà tặng đầy thiện ý, nhưng kỳ quặc và hoàn toàn không chấp nhận được, bắt đầu bằng cái ví tay cũ trong có tờ séc ba đô la mà cô nhặt được trên phố và, tất nhiên, đã gửi trả lại (cho Betty Brown đã nói đến ở trên — đấy là nơi cô đến đầu tiên — một phụ nữ hom hem da màu hầu như không thể đi được), rồi kết thúc bằng đề xuất xấc xược từ anh chàng vẫn theo đuổi cô lâu nay (đây là nơi Paul xuất hiện) để vẽ những bức tranh “chân thật” về ngôi nhà và gia đình anh ta với món thù lao phải chăng — tất cả những điều này tiếp theo sự ra đi của bà Page nào đó, một con mụ tốt bụng nhưng khá già, kẻ từng làm phiền cô với ít lời răn dạy thực dụng từ khi Cynthia còn bé.

Tính cách Sybil, cô nói, có đường ven cầu vồng như thể bị mất nét đôi chút. Cô nói rằng nếu tôi biết Sybil rõ hơn thì có lẽ tôi sẽ hiểu ngay rằng tinh anh ở các sự kiện lặt nhặt đã giống Sybil như thế nào, các sự kiện, theo nhiều đợt, ngập tràn cuộc sống Cynthia sau vụ Sybil tự tử. Từ hồi họ mất mẹ, họ luôn muốn thoát khỏi ngôi nhà ở Boston và chuyển đến New York, nơi tranh Cynthia vẽ, họ nghĩ, sẽ có cơ hội được hâm mộ rộng rãi hơn; nhưng ngôi nhà cũ níu kéo họ bằng tất cả các xúc tu nhung lông của nó. Sybil quá cố, tuy nhiên, tiếp tục chia tách ngôi nhà khỏi quang cảnh chung quanh — một điều tác động hết sức tai hại đến cảm xúc mà ngôi nhà khơi gợi lên. Ngay bên kia con phố hẹp, một công trình xây dựng to lớn, xấu xí, đang thành hình trên các dàn giáo. Cặp bạch dương quen thuộc, đã chết mùa xuân ấy, biến thành những bộ xương vàng hoe. Những người thợ đến và phá vỡ cái vỉa hè màu ấm cũ kỹ một cách đáng yêu có sắc tím đặc biệt rực rỡ vào những ngày tháng Tư ẩm ướt và dội lại một cách đáng ghi nhớ làm sao những bước chân buổi sáng về hướng bảo tàng của ngài Lever, người mà ngay sau khi nghỉ hưu ở tuổi sáu mươi đã dành cả một phần tư thế kỷ chỉ để nghiên cứu ốc sên.

Nhân lúc đang nói về người già, ta nên bổ sung thêm rằng đôi khi chính những sự can thiệp và điềm lành sau khi chết ấy lại ở ngay bản chất sự giễu nhại. Cynthia đang giao du với một nhân viên thư viện lập dị tên là Porlock, tay này vào những năm cuối cuộc đời bụi bặm của mình đã làm công tác nghiên cứu sách cũ để kiếm các lỗi in sai huyền diệu như sự thay thế chữ l cho chữ h thứ hai trong từ “hither.” Trái ngược hẳn với Cynthia, anh ta chẳng quan tâm đến các dự báo giật gân tối nghĩa; tất cả những gì anh ta theo đuổi là chính cái điều quái dị ấy, sự thay đổi mà những kẻ có tài bắt chước ấy lựa chọn, những vết nhơ nhìn như đoá hoa; và Cynthia, một kẻ nghiệp dư còn biến thái hơn của các trò đố chữ, chơi chữ, từ ghép trái phép hoặc méo mó, vân vân, đã giúp kẻ lập dị đáng thương ấy theo đuổi cuộc truy lùng mà trong ánh sáng của ví dụ mà cô trích dẫn đã gây cho tôi ấn tượng như cơn điên thống kê. Dẫu sao chăng nữa, cô nói, vào ngày thứ ba sau khi anh ta chết, cô đã đọc một tạp chí và bỗng thấy đoạn trích dẫn từ một bài thơ bất hủ (mà cô, cùng các độc giả cả tin khác, tin rằng đã thực sự được sáng tác trong mơ) khi cô chợt nhận ra rằng “Alph” là một chuỗi chữ tiên tri từ các chữ cái đầu của Anna Livia Plurabelle (một dòng sông thần thánh khác chảy xuyên qua, hoặc vòng quanh thì đúng hơn, giấc mơ khác nữa), trong khi chữ h thêm vào thì vẫn đứng khiêm nhường, như tấm biển chỉ đường kín đáo, cho cái từ đã thôi miên ngài Porlock đến thế. Và tôi ước mình có thể nhớ lại được cuốn tiểu thuyết hoặc truyện ngắn ấy (mà tôi tin là của một nhà văn đương thời nào đấy) mà trong đó, không được tác giả biết đến, những chữ cái đầu tiên của các từ trong đoạn văn cuối cùng đã tạo thành, theo như Cynthia giải mã, một thông điệp từ người mẹ đã quá cố của anh ta.

V

Tôi rất tiếc phải nói rằng, do không thoả mãn với những tưởng tượng khéo léo này, Cynthia đã để lộ ra lòng mến chuộng tức cười với thuyết duy linh. Tôi từ chối đi cùng cô đến những buổi ngồi đồng mà ở đó bọn đồng cốt được trả tiền đến tham gia: tôi biết quá nhiều về điều này qua các nguồn tin khác. Tuy vậy, tôi cũng đồng ý dự những buổi kịch nhỏ được dàn dựng bởi Cynthia và hai quý ông bạn bè mặt lạnh như tiền ở hiệu in. Họ là những gã đàn ông lớn tuổi, béo lùn, lịch thiệp, khá quái đản, nhưng tôi tự thuyết phục mình rằng họ có văn hoá và rất hóm hỉnh. Chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn nhỏ mỏng manh, và bắt đầu rung răng rắc gần như ngay khi chúng tôi đặt đầu ngón tay lên trên nó. Tôi vui sướng được thấy đủ loại hồn ma văng ra các bản tường trình của chúng một cách hết sức dễ dàng mặc dù khước từ giải thích bất cứ điều gì mà tôi không hoàn toàn nắm bắt được. Oscar Wilde bước vào và nói rất lưu loát một thứ tiếng Pháp méo mó, với kiểu diễn đạt đặc Anh thường lệ, buộc tội một cách mờ ám cha mẹ đã quá cố của Cynthia về những thứ xuất hiện trong các ghi chép ngắn của tôi như “sự đạo văn.” Một linh hồn lanh lợi góp thêm thông tin không ai yêu cầu rằng hắn, John Moore, và em trai Bill của hắn từng là công nhân mỏ than ở Colorado và bỏ mạng trong vụ sụt lở ở “Crested Beauty” hồi tháng Một năm 1883. Frederic Myers, một kẻ sừng sỏi lõi đời, chế ra mẩu thơ (giống một cách kỳ cục với những sản phẩm phù du của chính Cynthia) mà một phần được ghi lại trong sổ của tôi:

Cái gì đây - con th o thut
Hay tia sáng bt t khe sâu
Kìm nén ta khi các thói tt
Và xua tan đi gic mng su

Cuối cùng, với tiếng loảng xoảng hết sức ầm ĩ cùng mọi thể loại chuyển động rùng rùng như nhảy dích trên một phần chiếc bàn, Leo Tolstoy ghé thăm nhóm nhỏ chúng tôi và, khi được yêu cầu chứng thực mình bằng những điểm đặc trưng về nơi cư trú trên trần gian, quăng lên một miêu tả rắc rối về cái có vẻ như phần mộc của một kiến trúc kiểu Nga. (“các hình dạng trên bảng — người, ngựa, gà trống, người, ngựa, gà trống”), tất cả đều rất khó chép lại, rất khó hiểu, và không thể xác minh.

Tôi tham dự hai hay ba buổi ngồi đồng khác nữa, chúng thậm chí còn ngớ ngẩn hơn, nhưng tôi phải thú nhận rằng tôi thích thú sự tiêu khiển trẻ thơ mà chúng mang lại và món rượu táo mà chúng tôi uống (Podgy và Pudgy kiêng rượu hoàn toàn) hơn những buổi tiệc ở ngôi nhà dễ sợ của Cynthia.

Cô đưa họ qua căn hộ xinh xắn của nhà Wheeler bên hàng xóm — một kiểu thu xếp chân tình từ bản chất hướng ngoại của cô, nhưng dĩ nhiên cũng còn do phòng khách của chính cô luôn giống như bảng màu cũ kỹ bẩn thỉu. Theo một tục lệ man rợ, mất vệ sinh, và thông dâm, những chiếc áo choàng của khách, còn ấm bên trong, được Bob Wheeler trầm lặng, hói đầu bưng vào chốn thiêng liêng của căn phòng ngủ nhỏ xíu và chất đống trên chiếc giường ngủ vợ chồng. Cũng là ông pha các loại rượu, mà nhà nhiếp ảnh trẻ truyền quanh trong khi Cynthia và bà Wheeler chuẩn bị bánh xăng-vích.

Những vị khách đến muộn có cảm tưởng rất nhiều người ồn ào tụ tập thành nhóm một cách không cần thiết trong không gian mù mịt khói xanh giữa hai tấm gương no nê ảnh chiếu. Tôi cho rằng, vì Cynthia muốn được là người trẻ nhất trong phòng, cho nên các phụ nữ mà cô hay mời đến, dù đã có gia đình hay vẫn còn cô đơn, ở, may lắm thì, độ tuổi bốn mươi đáng ngờ; vài người trong số họ mang từ nhà, trong những chiếc taxi đen tối, các dấu tích còn nguyên vẹn của nhan sắc, thứ mà, dẫu sao thì, họ cũng đánh mất lúc buổi tiệc diễn tiến. Điều luôn làm tôi kinh ngạc là khả năng mà những người tham dự cuộc vui thân mật cuối tuần sở hữu khi họ tìm được gần như ngay lập tức, bằng một phương pháp thuần tuý theo kinh nghiệm nhưng hết sức chính xác, một mẫu thức say xỉn chung, mà mọi người bám víu vào một cách trung thành cho đến khi, tất cả cùng nhau, thăng qua mức sau. Tình bạn thắm thiết giữa các phụ nữ có chồng được tô điểm bằng âm bội tinh nghịch trai lơ, trong khi cái nhìn bất động hướng nội của những người đàn ông đang say mềm một cách đáng yêu lại giống như sự giễu nhại đầy báng bổ với sự mang thai. Mặc dù vài vị khách cách này cách khác có liên quan đến nghệ thuật, ở đó vẫn chẳng có cuộc mạn đàm hứng thú nào, chẳng có cái đầu đội-vòng-hoa, được-khuỷu-tay-đỡ nào, và tất nhiên không có các cô gái thổi sáo. Từ vị trí thuận lợi nào đó nơi cô ngồi theo tư thế nàng tiên cá bị mắc cạn trên tấm thảm nhạt màu cùng vài gã trai trẻ hơn, Cynthia, gương mặt được trang điểm bằng lớp màng mồ hôi toả sáng, sẽ bò trên hai đầu gối, một đĩa quả hạch mời mọc trên một bàn tay, và quả quyết vỗ bằng bàn tay kia lên cẳng chân lực lưỡng của Cochran hay Corcoran, một tay lái buôn nghệ thuật, ngồi thu lu, trong chiếc sô-pha màu xám-ngọc, giữa hai quý cô hồng hào, tan ra vì hạnh phúc.
Vào giai đoạn xa hơn nữa, là tới lúc trào dâng niềm vui phóng đãng hơn. Corcoran hay Coransky sẽ túm vai Cynthia hoặc một phụ nữ vẩn vơ khác và đưa vào một góc để bắt cô ấy đối mặt với một mớ lộn xộn nhăn nhở rặt những truyện cười riêng tư và tin đồn nhảm, nhân đó, với nụ cười và cái hất đầu, cô ấy sẽ trốn thoát. Và muộn hơn nữa, nơi đó sẽ xôn xao những gần gũi giới tính, những hoà giải hài hước, cánh tay trần trụi nhục dục quàng quanh chồng người đàn bà khác (ông này đang đứng rất thẳng người ngay giữa căn phòng chao đảo), hoặc sự bùng nổ đột ngột cơn giận giữ đỏng đảnh, hoặc sự đeo đuổi vụng về — và nụ cười nửa miệng lặng lẽ của Bob Wheeler khi nhặt lên những chiếc ly mọc như nấm trong bóng râm của những chiếc ghế.

Sau buổi tiệc cuối cùng thuộc dạng này, tôi viết cho Cynthia một lá thư hoàn toàn vô hại và, nói chung, đầy thiện ý, trong thư tôi dùng một truyện tiếu lâm tiếng La Tinh để chế giễu vài vị khách của cô. Tôi cũng xin lỗi vì không đụng đến rượu uýt-ky của cô, phân trần rằng do là người Pháp nên tôi ưa nho hơn lúa mạch. Vài ngày sau, tôi gặp cô trên bậc thềm Thư Viện Công Cộng, trong ánh nắng nhập nhoà, dưới cơn mưa bóng mây, đang mở cây dù màu hổ phách của mình, đánh vật với hai cuốn sách cắp nách (mà tôi đỡ cho cô một lúc), Nhng bước chân trên đường Biên Thế Gii Khác của Robert Dale Owen, và cuốn gì đó về “Thuyết Duy Linh và Cơ đốc Giáo”; đột nhiên, ngay lúc đó, dù không có khiêu khích nào từ phía tôi, cô công kích tôi dữ dội và thô tục, dùng những từ độc địa, nói — xuyên qua những giọt mưa thưa thớt hình quả lê — rằng tôi là kẻ hợm hĩnh đạo đức giả; rằng tôi chỉ nhìn thấy điệu bộ và bề ngoài lừa dối của con người; rằng Corcoran đã cứu được, tại hai đại Dương khác nhau, hai người khỏi bị chết đuối — theo sự trùng khớp ngẫu nhiên không thích hợp, cả hai tên là Corcoran; rằng Joan Winter hay nô đùa ầm ĩ và kêu thất thanh có cô con gái nhỏ phải chịu kiếp nạn lớn lên trong cảnh mù loà hoàn toàn khi mới được vài tháng; và rằng người phụ nữ mặc đồ xanh lục có bộ ngực tàn nhang, người bị tôi làm mất mặt bằng cách nào đấy không rõ, đã viết một cuốn sách bán rất chạy trên toàn quốc hồi năm 1932. Cynthia kỳ lạ! Tôi nghe nói cô có thể đợt nhiên trở nên khiếm nhã một cách hung tợn với những người mà cô từng yêu quý và tôn trọng; dẫu sao thì người ta vẫn phải vạch ra ở đâu đó một đường ranh và cũng do đến lúc ấy tôi đã nghiên cứu đủ về những tinh anh thú vị và các xung động bản năng cùng các thứ linh tinh khác của cô, nên tôi quyết định tuyệt giao với cô.

VI

Cái đêm D. báo tin cho tôi về cái chết của Cynthia, sau mười một giờ khuya tôi mới quay về ngôi nhà hai tầng mà tôi chia sẻ, theo chiều ngang, với quả phụ của một giáo sư danh dự. Lúc đặt chân lên hiên nhà, tôi đưa mắt nhìn với nỗi sợ cô đơn vào hai loại bóng tối trên hai hàng cửa sổ: bóng tối trống vắng và bóng tối giấc ngủ. 

Tôi có thể làm điều gì đó với loại thứ nhất nhưng không thể bắt chước loại thứ hai. Chiếc giường của tôi không mang lại cho tôi cảm giác an toàn; các lò xo của nó chỉ làm thần kinh tôi nảy tưng tưng mà thôi. Tôi chìm vào những bản sonnet của Shakespeare — và thấy mình đang kiểm tra một cách ngu ngốc các chữ cái đầu dòng để xem chúng có thể tạo nên những từ thiêng liêng nào. Tôi ghép được FATE (LXX), ATOM (CXX), và, hai lần, TAFT (LXXXVIII, CXXXI). Thỉnh thoảng tôi liếc quanh để xem các vật thể trong phòng mình đang hành xử ra sao. Thật lạ lùng khi nghĩ rằng giả dụ như bom bắt đầu rơi thì tôi sẽ có cảm giác còn không bằng sự phấn khích của con bạc (và rất nhiều nỗi khuây khoả trần tục), còn trái tim tôi sẽ nổ tung nếu một cái chai nhỏ nhìn có vẻ căng thẳng đáng ngờ nào đó trên cái giá đằng kia di chuyển một khoảng nhỏ chừng một in-xơ lệch qua bên. Sự tĩnh lặng cũng đặc quánh đáng ngờ như thể đang thong thả tạo hình một tấm màn đen cho chớp sáng thần kinh được tạo nên bởi tiếng động nhỏ bất kỳ từ một nguồn nào đó không rõ. Mọi giao thông chết lặng. Tôi hoài công cầu xin tiếng rền rĩ của xe tải trên phố Perkins. Người phụ nữ ở phía trên, người vẫn làm tôi phát điên bằng tiếng thình thịch bùng bùng được tạo ra bởi cái dường như là đôi chân đá của quái vật khổng lồ nào đó (trên thực tế, trong cuộc sống ban ngày, bà ta là một tạo vật nhỏ buồn bã giống con chuột lang khô quắt) sẽ giành được ân sủng của tôi nếu ngay bây giờ bà ấy lê bước vào phòng tắm. Tôi tắt đèn và hắng giọng vài lần để tỏ ra có trách nhiệm với ít nhất là âm thanh ấy. Tôi vụng về điều khiển một cuộc dạo chơi trong tâm tưởng cùng một chiếc ô tô rất đỗi xa xôi nhưng nó thả tôi xuống trước cả khi tôi có cơ hội lơ mơ chợp mắt. Ngay sau đó, tiếng lách tách (do, tôi hy vọng, tờ giấy loại bị vò nhàu mở bung ra như đoá hoa đêm tiều tuỵ, ương bướng) bắt đầu và kết thúc trong giỏ giấy vụn, và chiếc bàn đầu giường tôi đáp lời bằng tiếng lạch cạch rất khẽ. Nó diễn ra hệt như thể Cynthia trình diễn ngay lúc ấy một buổi diễn rẻ tiền của lũ yêu tinh.

Tôi quyết định chiến đấu với Cynthia. Tôi hồi tưởng trong tâm trí mình kỷ nguyên hiện đại của tiếng gõ và ma quỷ hiện hình, bắt đầu với tiếng gõ cửa hồi năm 1848, tại ngôi làng Hydesville, New York, và kết thúc bằng hiện tượng lố bịch tại Cambridge, Massachusetts; tôi gợi lại những chiếc xương mắt cá chân và những cái phách giải phẫu học khác của chị em nhà Fox (như được miêu tả bởi các nhà hiền triết của đại học Buffalo); đại diện điển hình giống nhau một cách huyền bí của những thanh niên nhã nhặn ở Epworth hoặc Tedworth lạnh lẽo, toát ra cùng một sự nhiễu nhương như ở Peru cổ đại; những cuộc truy hoan trọng thể thời Nữ hoàng Victoria cùng mưa hoa hồng và những cây đàn xếp bập bềnh theo giai điệu của âm nhạc thánh thần; những kẻ lừa đảo chuyên nghiệp mửa ra các miếng vải xô ẩm ướt vẫn dùng để bọc pho-mát; ông Duncan — người chồng đường hoàng của bà đồng, một quý ông mà, khi được hỏi liệu ông có chịu cho điều nghiên hay không, xin cáo lỗi, lấy cớ đồ lót bẩn; ông già Alfred Russel Wallace, nhà tự nhiên học ngờ nghệch, từ chối tin rằng cái dáng hình trắng trắng với đôi chân trần và dái tai không bị đục lỗ đằng trước ông, ở một xứ quỷ riêng tư tại Boston, có thể là bà Cook rất mực đoan trang mà ông vừa mới thấy đang say ngủ, trong cái góc che màn, mặc toàn đồ đen, đi đôi bốt buộc giây và đeo khuyên tai; hai nhà điều tra khác, nhỏ con, yếu đuối, nhưng khá thông minh và linh lợi, chân tay níu chặt Eusapia, một phụ nữ đứng tuổi phúng phính, to con, bốc mùi tỏi, người vẫn lừa được họ; còn nhà ảo thuật đa nghi và ngượng nghịu, được chỉ dẫn bởi “sự điều khiển” của Margery trẻ trung quyến rũ sao cho không bị lạc lối trong lớp vải lót áo choàng tắm mà đi theo bít tất dài bên phải cho đến khi ông ta tới được bắp vế trần trụi — trên lớp da ấm mà ông ta cảm thấy một khối “viễn tạo”, hiện lên dưới cảm nhận xúc giác giống một cách đặc biệt với miếng gan lạnh, chưa bị chế biến. 

VII

Tôi đã van lơn nhục thân, và sự ô uế của nhục thân, để bác lại và đánh bại tính ngoan cố có thể có của cuộc đời hồn lìa khỏi xác. Than ôi, những lời cầu khẩn này chỉ làm trầm trọng hơn nỗi sợ của tôi với bóng ma Cynthia. Sự bình yên tái lai cùng bình minh, và khi tôi trườn vào giấc ngủ thì ánh nắng xuyên qua các mành mành cửa sổ màu hung để lọt vào một giấc mơ không biết làm sao mà toàn những Cynthia.

Điều này thật đáng thất vọng. An toàn trong pháo đài ánh sáng ban ngày, tôi tự nhủ rằng mình đã mong đợi nhiều hơn. Cô ấy, một hoạ sỹ của những chi tiết sáng chói như kính — mà sao lại mơ hồ đến thế! Tôi nằm lên giường, ngẫm lại giấc mơ của mình và lắng nghe lũ chim sẻ ngoài kia: Ai mà biết được, nếu thu âm và cho quay lại, tiếng chim ấy biết đâu sẽ thành giọng người, thành lời nói, hệt như lời nói sẽ biến thành tiếng hót líu lo khi cho chạy lùi lại? Tôi ép mình đọc lại giấc mơ — quay lại, theo đường chéo, lên, xuống — cố gắng hết sức để làm sáng tỏ điều gì đó thuộc-về-Cynthia ở trong nó, điều gì đó lạ lùng và có tính gợi nhớ phải có ở nơi đó.

Bất an, nằm gập người ho, ủ dột, ốm. Con yêu nữ trăng hoa. Ít ai tình riêng ưng phận hèn. Im. Chẳng ưa ai. Em mong sẽ yên bình. Im lặng.

6 Jun 2015

Tìm Vàng từ Chiếc Loa Rác


Dường như có quá nhiều người quan tâm đến vụ chị bán ve chai Sài Gòn tìm được 5 triệu yên trong chiếc loa cũ và sau khi bị những người xung quanh tranh cướp tiền đã nộp lại cho công an. Có thể thấy đám đông đang mong chờ một kết thúc “cổ tích” là sau một năm thông báo mà không có ai đứng ra nhận, thì chị sẽ lấy được số tiền đó, hoặc, đúng hơn là, một phần của nó, hình như 50% sau khi trừ các chi phí liên quan, theo quy định của pháp luật VN.





Mong muốn ấy hiển nhiên phần nào thể hiện một mơ ước thầm kín nào đó của đám đông – chẳng hạn như đổi đời nhờ ông chú bên Mỹ, ông bác bên Nga, hoặc trúng số độc đắc, và ở trường hợp riêng này đã vật chất hóa thành chiếc loa cũ với kho tiền Nhật bên trong. Toàn bộ những thứ này kết hợp với hình ảnh mang tính biểu tượng của một nhân vật nghèo khổ có giới tính nữ chắc chắn đã gợi lên những chuỗi hình ảnh liên tưởng, và quả là một kịch bản hoàn hảo không chỉ cho báo chí, facebook, mà còn cho nhiều loại hình nghệ thuật khác nữa.

Tuy nhiên, hạnh phúc, như Nam Cao từng viết, là cái chăn hẹp, bên này co thì bên khác hở. Số tiền 5 triệu yên ấy hẳn là phải thuộc về một ai đó, và căn cứ theo loại tiền cũng như nơi cất giấu nó, thì có thể suy đoán rằng nó thực ra đã đến từ Nhật Bản, một quốc gia mà người dân có thói quen giấu tiền ở nhà, do lãi suất quá thấp và do sau đợt vỡ bong bóng tài sản vào thập niên 1990, Ngân hàng Trung ương Nhật (BoJ) đã bãi bỏ một phần chính sách bảo hiểm tiền gửi. Năm ngoái, ngài Taro Aso, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nhật,  từng thu hút sự chú ý của dư luận khi tuyên bố người Nhật đang “ngồi trên” 880 tỷ Yên, tương đương 7,33 nghìn tỷ USD, tiền mặt. Báo chí Nhật khi đó đưa tin rằng người dân nước này đang cất giữ số tiền khổng lồ ấy “dưới đệm”. Hoặc, nói một cách hình tượng hơn, “trong loa”.

Rất có thể đã có một người Nhật nào đó tích góp số tiền tiết kiệm của mình trong một chiếc hộp, rồi giấu nó vào trong một chiếc loa cũ. Rồi sau này do sơ suất, do đãng trí, hoặc do người thân không biết, chiếc loa này đã được quăng ra bãi rác điện tử, rồi được nhập về VN qua những con đường khác nhau, chẳng hạn qua Căm Pu Chia, nơi dân buôn đồ điện tử cũ rất ưa chuộng. Người Nhật đó có thể là một người nghèo, một phụ nữ lao động chân tay, đã dành dụm nó cho tuổi già của mình, hoặc cho con cháu mình.

Khó tin là người giàu lại giấu tiền trong một chiếc loa cũ, và cũng khó tin là một người VN lại giấu tiền yên của Nhật như vậy. Tiền yên không phải là loại tiền được ưa chuộng để cất giữ như một tài sản ở VN, và cũng hiếm ai chôn tiền trong nhà ở một đất nước có lãi suất ngân hàng rất cao và thị trường bất động sản tăng giá ổn định như chúng ta.

Đến đây, bỗng nhiên người viết những dòng này có một giấc mơ nhỏ. Tại sao, thay vì vui sướng với việc lượm được tiền người khác, chúng ta không thử thật tâm cố gắng tìm chủ sở hữu của nó, chẳng hạn bằng cách chụp và thông tin chi tiết các thông số kỹ thuật của chiếc loa cũ, chiếc hộp đựng tiền, số tiền trong hộp, cho dư luận Nhật biết để tìm chủ nhân đích thực của nó. Đúng là số tiền 5 triệu yên không lớn với một quốc gia giàu có như Nhật Bản, và cũng không phải tài sản lớn ở một quốc gia có phi công buôn lậu hàng cân vàng như chúng ta; nhưng, có những thứ không thể đo bằng tiền. Người ta có thể dựng tượng một chú chó vì nó chờ chủ nhiều năm ở ga tàu, chứ chưa chắc người ta đã dựng tượng một tỷ phú hãnh tiến nào đó.

Mặc dù với công nghệ hiện đại thì việc tìm chủ nhân cũ của một chiếc loa không phải là việc quá khó khăn, nhưng rất có thể việc tìm kiếm đó sẽ vô ích do chính chủ nhân chiếc loa đã qua đời hoặc mất trí nhớ, tuy nhiên nó cũng không tốn kém gì nhiều, và đặc biệt là, trong bối cảnh người Việt đang mang tiếng xấu ở Nhật và nước ngoài sau hàng loạt vụ buôn lậu, ăn cắp, và phạm các tội khác, thì các nỗ lực vì một số tiền nhỏ nhoi ấy biết đâu lại mang được những thay đổi đáng kể trong nhận thức của người nước ngoài về chúng ta. Dẫu sao thì các nỗ lực ấy cũng đáng để người ta bỏ công sức vào hơn là đứng ngoài vui mừng hò reo vì thấy có ai đó bỏ túi được tiền người khác làm mất.

Hẳn có người sẽ nói, như vậy thì chị ve chai quá thiệt thòi. Vâng, đúng là không nên phong thánh cho một chị ve chai. Khó có thể bắt một người nghèo như chị ấy phải hy sinh mấy trăm triệu đồng gần như đã nằm trong túi cho một giấc mơ viển vông mang tầm vĩ mô nào đó. Nhưng nếu như có nhiều người cùng mơ một giấc mơ lớn hơn cái loa cũ đôi chút, với viễn cảnh về một người nghèo nào đó ở một đất nước xa xôi nhận lại được chiếc loa giấu số tiền chắt bóp của mình, và nhờ đó mà ít nhất là người ấy và thân bằng quyến thuộc của họ có những suy nghĩ tốt hơn về người Việt, thì việc quyên góp vài trăm triệu để mua lại chiếc loa cũ đó từ chị ve chai chỉ là một chuyện quá nhỏ, ngang vài trang quảng cáo trên các tờ báo lớn của VN mà thôi.

Cho đến giờ, đất nước chúng ta vẫn mang cái tiếng là nơi tiêu thụ đồ cũ, là bãi rác công nghệ của thế giới, và là nơi vẫn phải ngửa tay nhận tiền giúp đỡ từ nước ngoài. Rồi chúng ta sẽ phải thoát ra khỏi được cảnh này, nhưng, có lẽ, nếu có tâm thế của những người tự trọng cùng tấm lòng nhân hậu với ước mơ xây dựng và bảo vệ tương lai bằng chính bàn tay mình, thì ngày đó sẽ đến sớm hơn.  Và nói cho cùng, thì nếu ta có làm điều thiện nào đó, thì cũng vì chính mình và con cái của mình mà thôi.

26 Apr 2015

Một số ngụy biện thường gặp trong việc tranh luận về dịch thuật (Bài 1: Ngụy biện về Dịch giả)




Trong quá trình phê bình dịch thuật vừa qua, tôi thường xuyên gặp các phản hồi ngụy biện nhiều kiểu khác nhau. Chúng có thể chia thành một số lỗi cơ bản mà tôi sẽ từ từ tổng kết lại. Trước tiên, tôi muốn nói về một số ngụy biện liên quan đến dịch giả:

1. Đổ lỗi cho sinh viên: thật kỳ lạ, nhưng loại bài viết ngụy biện chày cối kiểu này xuất hiện khá thường xuyên. Người bảo vệ dịch giả, sau khi không thể chối cãi được các lỗi dịch tệ hại và dốt nát, quay qua nói rằng các bản dịch này "nghe nói" là dịch giả đưa cho sinh viên (hoặc các dịch giả vô danh nào đó) dịch, rồi chỉ ký tên lĩnh hoa hồng ở dưới. Tuy nhiên, những lập luận dạng này rất ngu ngốc vì:

1.1. Nếu dịch giả nào hành xử như vậy, thì liệu họ có danh dự hay không? có đạo đức hay không? Tại sao một người lại có thể bán rẻ tên tuổi của mình với cái giá rẻ mạt như vậy? Và nếu họ làm như thế thì các bạn sẽ nghĩ sao về tất cả các bài trả lời phỏng vấn, các bài PR trên báo chí của nhà sách và của chính dịch giả ấy? Các bạn có chấp nhận được sự lừa đảo trắng trợn đến thế hay không?

1.2. Nếu dịch giả nào đã đưa sinh viên dịch bản dịch thảm họa ấy, thì hoàn toàn có thể đặt tất cả các bản dịch của họ dưới sự nghi ngờ rằng chúng, từ trước đến nay, đều do "sinh viên" dịch mà thôi.

1.3. Mặc nhiên coi sinh viên là những dịch giả dốt nát, trong khi nhiều lỗi trong các bản dịch của dịch giả gạo cội còn dốt nát và cẩu thả đến mức không có sinh viên nào nghĩ là mình có thể dịch tệ đến như vậy.

2. Dựa vào số tác phẩm đã dịch: đây cũng là lập luận ngụy biện thường gặp. Người bảo vệ dịch giả cho rằng với số lượng các tác phẩm đã dịch thì có thể tin tưởng là dịch giả có trình độ không tồi. Tuy nhên, việc một tác phẩm nào đó bị dịch kém là cơ sở tin cậy để nghi ngờ rằng tất cả các bản dịch khác của dịch giả đã dịch tác phẩm ấy đều kém, chứ không phải là ngược lại. Hoàn toàn có khả năng rằng nếu kiểm tra lại các bản dịch khác mà dịch giả ấy đã dịch, thì cũng sẽ thấy các thảm họa tương tự mà thôi. Cách duy nhất để đánh giá chất lượng bản dịch là đối chiếu nó với bản gốc, không thể có cách nào khác.





3. Dựa trên tuổi tác và sức khỏe: nhiều người bảo vệ dịch giả cho rằng không nên tấn công các lỗi dịch của một dịch giả nào đó do ông ta / cô ta / bà ta quá già / quá trẻ / quá nghèo / đang bị bệnh nan y / vân vân và vân vân. Như vậy có thiệt thòi lắm không, với các dịch giả đàn ông, to cao, đẹp trai, giàu có, học thức, khỏe mạnh, đang độ tráng niên? Phải chăng người ta có quyền dịch sai khi ở trên và dưới những độ tuổi nào đó, khi có các chỉ số đường huyết, áp huyết, men gan,... nằm ngoài các giới hạn nào đó? Khi họ là đàn bà, pê đê, hay là đang chuẩn bị chuyển đổi giới tính? Quả thật, sức khỏe là yếu tố có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng bản dịch. Nhưng nếu dựa vào sức khỏe để bảo vệ cái kém cỏi của bản dịch thì không công bằng với độc giả, trừ khi nhà nước dán tem lên sách, báo trước cho độc giả biết là bản dịch này do người thiểu năng dịch. Còn về tuổi tác của dịch giả thì, theo tôi, khả năng ngoại ngữ và viết lách của con người thường ít suy giảm theo thời gian nếu họ không bị bệnh nặng, Tô Hoài càng già viết càng hay, Xiao Qian dịch Ulysses của James Joyce qua tiếng Hoa khi ông đã ngoài 80. Riêng trong văn chương thì tuổi tác là một ưu thế, một ưu thế hoàn toàn không nhỏ.

4. Dựa theo đánh giá của báo chí: đây là một lập luận ngớ ngẩn hạng nhất, nhưng thật đáng tiếc, nó khá thông dụng. Người bảo vệ dịch giả bám vào các bài báo của phóng viên này, bài ca tụng của "chuyên gia" nọ, để nghi ngờ các phân tích lỗi. Nhưng ở đâu không biết, chứ ở VN này, tuyệt đại đa số phóng viên phụ trách mảng văn hóa văn nghệ không biết ngoại ngữ ở mức đọc nổi hướng dẫn sử dụng máy hút bụi, và các "chuyên gia" chủ yếu là cánh hẩu của dịch giả, chứ sự thực vừa dốt ngoại ngữ vừa chẳng biết gì về cái gọi là chuyên môn. Cho nên các bài báo khen ngợi bản dịch chủ yếu là thông cáo báo chí viết sẵn của nhà sách mà thôi.

5. Nhầm lẫn giữa dịch giả và tác giả: đây cũng là một dạng lỗi ngụy biện hay gặp. Nhiều người cứ tưởng ai đi dịch sách của Tolstoi, Murakami, Proust, Nabokov, Modiano, Faulkner thì cũng giỏi như tác giả hoặc chí ít thì cũng giỏi hơn các dịch giả phải đi dịch những thứ tầm thường hơn. Nhưng cái áo không làm nên ông thầy tu. Dịch kiệt tác mà sai be bét thì còn tệ hơn dịch truyện ngôn tình. Và dịch giả, nói cho cùng, chỉ là con khỉ của nhà văn. Mỗi kiệt tác văn chương là một sản phẩm độc nhất vô nhị, tác giả là thiên tài vài tỷ người có một, còn bản dịch có thể có hàng ngàn, người dịch giỏi lắm cũng chỉ có thể coi là học trò tự nguyện của nhà văn, một thứ nô lệ trí thức nếu đủ giỏi, còn nếu không đủ giỏi thì dịch giả sẽ là một thứ nô lệ phản chủ. Nhưng ảo tưởng lốt sư tử ở VN đã sinh ra rất nhiều dịch giả ngu dốt mà háo danh, đem kiệt tác văn chương ra dịch loạn, tàn sát biết bao nhiêu văn hào trong lòng độc giả. Nếu dịch giả lượng được sức mình, không lao đầu vào đá, chỉ đi dịch các tác phẩm đơn giản để kiếm sống qua ngày, thì văn hóa đọc của độc giả VN trong những thập niên gần đây nếu không tốt lên thì chí ít cũng không tệ đi, bởi lẽ sau khi mòn mỏi chờ đợi sự vĩ đại của các văn hào lớn nhất của nhân loại, và được xem báo chí  tung hô khắp nơi, độc giả rất sốc khi mua bản dịch mới về và phát hiện ra các kiệt tác ấy hóa ra chỉ là những đống rác chữ lộn xộn và bốc mùi cống rãnh.

Trên đây là những ngụy biện thường gặp nhất trong các cuộc tranh luận về dịch giả dịch sai. Nếu phát hiện thêm dạng ngụy biện nào đáng chú ý, tôi sẽ thêm vào sau. Hy vọng nếu có ai còn tranh luận về vấn đề này, nên suy nghĩ kỹ trước khi viết.

17 Apr 2015

Bìa Lolita


10 Apr 2015

Từ vựng Lolita



Từ được sử dụng nhiều nhất trong Lolita là tên của nữ nhân vật chính: Dolores - 65 lần, Dolly - 100 lần, Lolita - 240 lần, và Lo - 273 lần, tổng số: 678 lần trong một tiểu thuyết khoảng 110 ngàn từ, như vậy tên cô chiếm đến 0,6% tổng số từ. Riêng chương 26, phần 1, tên Lolita chiếm đến 12% tổng số từ.
Tên Humbert xuất hiện 106 lần (trong đó Humbert Humbert: 19 lần), chưa kể khá nhiều biến thể của nó. Các từ tiếng Pháp, Latin và đức được dùng rất "thoải mái" trong tiểu thuyết, và rất nhiều từ trong số chúng là các từ hiếm khi được sử dụng tại chính quê hương chúng.
Lolita có 14 ngàn từ đơn nhất, 10 ngàn thân từ đơn nhất, và 4 ngàn thân từ chỉ được dùng một lần. Thống kê này cho thấy khả năng dùng từ cực kỳ xuất sắc của Nabokov.


23 Feb 2015

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Lolita Bản dịch tiếng Việt

15 Feb 2015

Lolita và Humbert làm tình với nhau bao nhiêu lần mỗi ngày?



Ngay đầu chương 7 phần II Lolita có một đoạn mà sự khác biệt giữa bản tiếng Anh và bản tiếng Nga rất đáng để ghi lại:

Tiếng Anh:

Her weekly allowance, paid to her under condition she fulfill her basic obligations, was twenty-one cents at the start of the Beardsley era—and went up to one dollar five before its end.

Tiếng Nga:

Её недельное жалование, выплачиваемое ей при условии, что она будет исполнять трижды в сутки основные свои обязанности, было, в начале Бердслейской эры, двадцать один цент (к концу этой эры оно дошло до доллара и пяти центов, что уже составляло не один цент, а целых пять за сеанс).

Bản tiếng Anh chỉ nói là nếu hoàn thành nghĩa vụ (tình dục) trong một tuần thì Lolita được trả 21 xu. Về sau được nâng giá lên 1 đô và 5 xu. Nhưng trong bản tiếng Nga, Nabokov viết rõ ra là Lolita được trả 21 xu một tuần nếu mỗi ngày đáp ứng được ba lần, tính ra là 1 xu 1 lần; và sau này nâng lên 1 đô 5 xu, tính ra là... 5 xu một lần! Với độ tuổi gần 40 của Humbert, thì 3 lần làm tình hằng ngày đều đặn cũng là đáng nể đấy nhỉ!

Lolita đúng là tongue-in-cheek erotic novel.


7 Feb 2015

Dịch máy móc do đọc không thông (I wish)



Rất ít chỗ chơi chữ trong Lolita có thể bỏ qua không dịch, vì Nabokov chẳng bao giờ viết mà không nghĩ, ông chơi chữ không phải chỉ để mà chơi. Một chỗ viết rất khéo trong chương 18 phần I, Lolita:

We talked of the school. It had its drawbacks, and it had its virtues. “Of course, too many of the tradespeople here are Italians,” said John, “but on the other hand we are still spared—” “I wish,” interrupted Jean with a laugh, “Dolly and Rosaline were spending the summer together.”

Nó chỉ là đoạn đối thoại giữa 3 người (John, Jean và Humbert); nhưng dịch máy móc như cụ Dương Tường:



thì đoạn đối thoại này rất nhạt, độc giả có lẽ chỉ lướt qua vì chẳng hiểu Nabokov viết thế làm gì. Kỳ thực trong đây có một cái bẫy ngôn ngữ khá thú vị dựa trên kỹ thuật viết đồng âm dị nghĩa: I wish và Jewish (Do thái). Và nó cũng phần nào phác họa tính cách của John và Jean (2 người bạn của vợ chồng Humbert), John kỳ thị người Do Thái, còn Jean cho rằng Humbert là người Do Thái.

Trong Lolita có khá nhiều chỗ chơi chữ kiểu này, và đáng tiếc là bản dịch của DT đều không chuyển tải được dụng ý của Nabokov, và do đó, ai đọc bản dịch này cũng sẽ thấy nó khó hiểu, rườm rà, và không thể bám theo được mạch truyện.



6 Feb 2015

Đọc không thông mà dịch rất thạo! (Nụ hôn chậm rãi mơ màng như cánh hoa)


Một số dịch giả "gạo cội" ở Việt Nam vẫn lên giọng với lớp trẻ là khi dịch phải dùng một thứ tiếng Việt dễ hiểu, thuần Việt, và tự khen lẫn nhau là thời mình thì dịch giả đều có một thứ tiếng Việt rất "nghệ sỹ". Một lần nữa, xin thưa là dịch cho "thoát", cho "dễ", cho "trong sáng", đôi khi chỉ để quý vị che dấu sự dốt nát và lười nghiên cứu ngôn ngữ của mình mà thôi. Không thể nào có một trí thức hay một nhà quý tộc Mỹ, Anh, Pháp mà lại nói bằng cái ngôn ngữ để cho người nông dân trong Chí Phèo hiểu thun thút được. Và nhiều khi do không hiểu tiếng Anh, nên quý vị đã phăng câu văn gốc đi một nghĩa khác hẳn, rồi tự mơn trớn nhau rằng thế mới là dịch nghệ sỹ, là phù thủy ngôn ngữ, là "đồng tác giả".



Xin đưa một trong vô vàn ví dụ về việc hiểu sai tiếng Anh rồi bịa ra một câu tiếng Việt rất mượt mà nhưng vừa vô nghĩa vừa chẳng liên quan gì đến bản gốc trong bản dịch Lolita của Dương Tường:

Bản gốc tiếng Anh:

The oddly prepubescent curve of her back, her ricey skin, her slow languorous columbine kisses kept me from mischief. It is not the artistic aptitudes that are secondary sexual characters as some shams and shamans have said; it is the other way around: sex is but the ancilla of art.

Khoan nói đến những chỗ khác, hãy nhìn vào cụm từ "columbine kisses" mà cụ Dương Tường dịch bay bướm thành: "mơ màng như cánh hoa"! Nghe hay đúng không, và tại sao lại dịch thế nhỉ, chắc hẳn do cụ tra từ điển Anh-Việt thấy rằng: Columbine là "Một loại cây có cánh hoa mỏng nhọn". Bí quá cụ phăng ra thành thế. Tuy nhiên, thưa cụ, columbine chỉ có nghĩa là "Một loại cây có cánh hoa mỏng nhọn" khi nó là danh từ, còn khi là tính từ như ở chỗ nảy, thì nghĩa của nó là: "of, relating to, or resembling a dove". Tức là, thưa cụ, nó chỉ những thứ thuộc về, có liên quan đến, hay là tương tự như chim bồ câu. Cụm từ "Columbine Kiss" có nghĩa gần như "French Kiss". Và ý Nabokov ở đây nói như vậy về nụ hôn sâu của nàng Rita, chứ nó không có họ hàng gì với cánh hoa như cụ nghĩ!

Vô cùng nhiều chỗ hiểu sai ngữ pháp, hiểu sai nghĩa, nhầm tính từ qua danh từ động từ trong bản dịch Lolita của Dương Tường, mà trong khuôn khổ của một bài viết không thể nào liệt kê ra. Bài viết này chỉ là một trong chuỗi bài phân tích các thể loại lỗi trong bản dịch Lolita của Dương Tường mà thôi. Chỉ xin góp ý quý vị là tiêu chuẩn chất lượng đầu tiên của dịch phẩm là sự chính xác, là chữ Tín, ai dịch cũng có thể sai, nhưng sai đến mức nào đó thì nên bỏ bút đi làm nghề nào ít cần đến kỹ năng đọc hiểu cả tiếng Anh cả tiếng mẹ đẻ như nghề dịch

5 Feb 2015

Dịch sau quên trước.



Một câu văn vô cùng đơn giản, có thể nói là một trong những câu văn đơn giản nhất của Lolita, cũng bị dịch hết sức nhảm nhí:



Closed were the white shutters of the Junk mansion, and somebody had attached a found black velvet hair ribbon to the white FOR SALE sign which was leaning toward the sidewalk. No dog barked.

Junk Mansion: Ý mỉa mai ngôi nhà to của thằng trọc phú buôn Đồng Nát, hàng xóm nhà Lolita ở Ramsdale. Con chó cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm, nó được nhắc đến nhiều lần, và là nguyên nhân làm bà Haze chết (do tránh con chó khi chạy qua đường để gửi thư cho Lolita, và trượt chân ngã, bị xe cán phải). Nabokov không bao giờ viết cái gì mà không nghĩ. Ông đã dùng các hình ảnh mang tính biểu tượng đề nhắc độc giả nhớ lại ký ức. Chắc Dương Tường dịch đến đây quên béng mất phần trước.

Black velvet hair ribbon: Có lẽ bất cứ ai học tiếng Anh vài tháng cũng biết đây là cái gì, không hiểu tại sao Dương Tường dịch thành "dải nhung đen với tua rua tóc".

Còn mấy cái lỗi sau thì không còn gì để nói. Đoạn văn vài chục chữ mà dịch thiếu và dịch sai một nửa!