NABOKOV

Humbert và Lolita

Phim Lolita.

Lolita

Phim Lolita

Lolita

Phim Lolita

Nabokov

Life

Lolita và Humbert

Phim Lolita

14 July 2019

"Đàn ông có thể hạnh phúc với bất cứ cô nào, miễn đừng yêu cô ấy."


10 July 2019

Cách duy nhất để thoát khỏi cám dỗ là đầu hàng nó (Oscar Wilde)

Trong hình ảnh có thể có: văn bản

Sắc đẹp là một dạng Thiên tài


4 July 2019

Bức tranh Dorian Gray


Bản dịch "Bức tranh Dorian Gray", được in xong vào tháng 6 năm 2019. 
Đây là tiểu thuyết duy nhất của Oscar Wilde.

13 October 2018

Bìa cuốn "Dân Dublin" của James Joyce


4 September 2018

Đừng đụng vào cây mùa lá rụng!?



Một trong các bài thơ Nga nổi tiếng nhất ở VN và có câu gần như đã trở thành một thành ngữ tiếng Việt, tiếc thay, lại là một bản dịch hết sức nhảm. 
Thực ra cũng có nhiều người học Nga và am hiểu ngôn ngữ này viết về sai lầm cơ bản của bài này rồi, nên quả nhân cũng không đi sâu vào làm gì. Đó là câu "Đừng đụng vào cây mùa lá rụng!" mà thực ra bản tiếng Nga có ý là "Cẩn thận, lá rụng!" 
Đại ý là ở Nga vào mùa thu sẽ có vài tuần tự dưng lá rụng sạch, và các tuần đó đi lại rất nguy hiểm do lá nó làm đường trơn dễ ngã, nên người ta mới treo các biển cảnh báo kiểu như "cẩn thận cứt chó", vậy thôi, chứ cây ở Nga to vật, có mà lấy xe tải húc vào nó mới rụng lá. Thiếu nữ mong manh đụng vào thì xi nhê gì? Với cả chả ai tự dưng đụng vào cây được, đường ở Nga rộng thênh thang có phải vỉa hè Hà Nội một mét vuông ba bà bán hàng rong đâu mà đụng vào cây? 
Dĩ nhiên dưới con mắt thi sỹ thì nó phải lãng mạn hơn, phỏng ạ. Nhưng cũng không thể nào mà đổi hẳn ý thơ được. 
Tuy nhiên, quả nhân cho là Bằng Việt chém thành "Đừng đụng vào cây mùa lá rụng" rất là lan quyên, nhưng thực ra lại hợp với tạng người Việt yếu đuối. Gái Nga chả thế đâu. 
Nhưng cái sai đó chưa phải quan trọng nhất, mà là linh hồn bài thơ nó khác hẳn. 
Đại ý là cô gái thực ra bị giai bỏ, chứ cũng chả chia tay chia chân gì. Nên cả bài thơ là một lời tự an ủi. 
"Ничего не нужно было,- значит, нечего терять."Em đã chẳng cần gì - nghĩa là cũng chả mất gì." Rất gái, kiểu hơi nuốt nước mắt một tí. Yêu thế mới là yêu chứ. Rất chí khí, không bánh bèo tí nào. 
"даже близким, даже милым, даже другом не назвать." Chẳng thân quen, yêu đương gì, đến bạn cũng không. Nói chung không hiểu thằng này dạng gì với mình. 
"Почему же мне тоскливо, что прощаемся навек, Невеселый, несчастливый, одинокий человек?" Sao chuỵ lại phải buồn vì vĩnh biệt một gã không vui, không sướng, cô đơn? (Như mài). Tất nhiên đó là dưới con mắt của cổ, chứ thằng kia nó có buồn chán cô đơn không thì ai mà biết được. Có khi cổ vừa lên tàu nó đã gọi gái về rồi. Nhưng đây là cái lòng gái nó thẩm du thành thế, dịch phải ra được ý thì mới là hay. 
"Я не все тебе сказала, но теперь уж не скажу." Chuỵ chưa kể hết cho mài các cái đâu, nhưng giờ thì thôi chả thèm nói nữa. 
Đó là các ý thơ căn bản nhất trong bài, để nói lên được là cô gái rất yêu người đàn ông đó, nhưng phải chia tay anh ấy mà không nói được về tình yêu của mình. Cô thấy xót xa vì phải để lại anh ta một mình với nỗi bất hạnh của mình, nhưng cũng không biết làm gì hơn, vì cảm thấy là người đó không muốn hoặc không yêu hoặc không thích cô ấy. 
Còn các câu thơ phụ khác như kiểu ..Я одна пойду к вокзалу, - Tôi một mình ra ga,... thì có thể tạo cho độc giả một liên tưởng là cô gái đến thăm người đàn ông đó và bây giờ lại phải ra đi, hoặc là cô ấy đi đâu đó xa cái thành phố ấy và chẳng biết bao giờ quay lại vì không được yêu. 
Tuy nhiên, thơ là thứ gần như bất khả dịch, nên viết như trên không có nghĩa là chê Bằng Việt, mà ý chỉ là: đừng bao giờ cho rằng một bản dịch xuôi tai là đúng, là có hồn. Đúng là nó có hồn, nhưng hồn Lào ấy, không phải hồn Nga! 
Листопад
Осенью в Москве на бульварах
вывешивают дощечки с надписью
“Осторожно, листопад!“
Осень, осень! Над Москвою
Журавли, туман и дым.
Златосумрачной листвою
Загораются сады.
И дощечки на бульварах
всем прохожим говорят,
одиночкам или парам:
“Осторожно, листопад!”
О, как сердцу одиноко
в переулочке чужом!
Вечер бродит мимо окон,
вздрагивая под дождем.
Для кого же здесь одна я,
кто мне дорог, кто мне рад?
Почему припоминаю:
“Осторожно, листопад”?
Ничего не нужно было,-
значит, нечего терять:
даже близким, даже милым,
даже другом не назвать.
Почему же мне тоскливо,
что прощаемся навек,
Невеселый, несчастливый,
одинокий человек?
Что усмешки, что небрежность?
Перетерпишь, переждешь...
Нет - всего страшнее нежность..
Я одна пойду к вокзалу,
на прощание, как дождь.
Темный ливень, теплый ливень
весь - сверкание и дрожь!
Будь веселым, будь счастливым
на прощание, как дождь.
...Я одна пойду к вокзалу,
провожатым откажу.
Я не все тебе сказала,
но теперь уж не скажу.
Переулок полон ночью,
а дощечки говорят
проходящим одиночкам:
“Осторожно, листопад”...

2 September 2018

Vẻ đẹp văn chương của Vladimir Nabokov

Vẻ đẹp Nga quá vãng qua nhãn quan tràn đầy lòng trắc ẩn, nuối tiếc của Nabokov. Khép sách lại, là một giọt nước mắt lăn xuống cho thân phận những người Nga tha hương

Tôi đã ngần ngại đọc "Mỹ nhân Nga" (Thiên Lương dịch, NXB Văn học ấn hành) bởi lẽ, hồi ức khi đọc "Lolita" (Dương Tường dịch, NXB Hội Nhà văn xuất bản 2015) trong tôi là khó nhằn và ám ảnh. Nabokov luôn kìm độc giả đọc chậm, đọc kỹ, nhẩn nha. Sách không dành cho người đọc vội, đọc lướt, cũng không dành cho ai đang mệt mỏi, trầm uất, vì có khi nó khiến người ta xuống tinh thần hơn. Sách dành cho ai thật cân bằng, tĩnh tại, vì đọc Nabokov vừa là để thưởng thức vừa là để luyện trí não vừa là để tìm kiếm cái đẹp của văn chương.
"Phù thủy ngôn từ"
Nabokov là nhà văn chú trọng đến ngôn ngữ miêu tả. Từ ngữ như khắc, như chạm, kiệm lời nhưng có hồn, như nhảy múa, ca hát, như gợi trước mắt chúng ta. Tôi thích nhất cách Nabokov miêu tả thiên nhiên, khung cảnh, không gian, cảnh vật,… Tôi đọc đi đọc lại những đoạn miêu tả mà mình nghĩ chỉ có cỡ Nabokov mới có thể viết được như đoạn tả buổi đêm trong "Lá thư đến nước Nga", đoạn này gợi tôi nhớ đến "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam. Đoạn tả toa tàu trong truyện ngắn "Mối tình đầu" đẹp như cổ tích, đoạn tả buổi sáng ở biển trong truyện "Cuộc ẩu đả" chan hòa ánh nắng với "dòng nước tuôn như cái quạt bạc mềm dẻo từ ống cao su lấp lánh, lúc bay về phía mặt trời, lúc lại uyển chuyển sà xuống các bụi cây run rẩy"; "mây hè trôi thành đoàn hành hương bồng bềnh - những đám mây hình lạc đà, những đám mây hình túp lều. Mặt trời cố luồn qua giữa chúng, song chúng phủ các rìa sáng lòa lên nó, không trung tắt dần, rồi ánh hào quang lại chín mọng",… rất nhiều đoạn miêu tả khiến ta phải đọc chậm, trầm ngâm, tưởng tượng trước mặt mình khung cảnh ấy. Nabokov là nhà văn được mệnh danh "phù thủy ngôn từ", với quan niệm "chữ được ban cho quyền lực cao cả để sáng tạo…" (Hành khách, tr.119).
Vẻ đẹp của lòng trắc ẩn
Khi đọc "Lolita", nhiều người phân vân về tính nhân văn của tiểu thuyết, họ đặt câu hỏi tại sao Nabokov lại miêu tả kỹ lưỡng chân dung một nhân vật bệnh hoạn đến thế, có khá nhiều độc giả đã dị ứng và bài xích Nabokov. Nhưng đến tập truyện ngắn này, 100% độc giả sẽ thấy Nabokov rất nhân văn. Ông rất hay miêu tả những con người vô danh, lầm than, cùng quẫn như chàng làm thuê, cô gái điếm, những người bị tật nguyền, khiếm khuyết thể xác hoặc tinh thần,… Nabokov dành cảm tình đặc biệt cho người già. Hơn một nửa số truyện trong tập này kể về những người Nga lưu vong già nua sống âm thầm ở châu Âu một cách mòn mỏi, lê lết, hoài nhớ về cố quốc trong những chuỗi ngày chán chường, buồn bã, vô vị. Cách miêu tả những chi tiết vặt vãnh để minh họa cho chủ đề "con người nhỏ bé" đó của Nabokov trong trường hợp này đạt hiệu quả đặc biệt, "chẳng lẽ không phải mỗi nhà văn đều chính là kẻ vẫn bận tâm với những thứ vặt vãnh đó sao?"(Hành khách, tr.113). Thủ pháp "miêu tả các vật thể bình thường"(Cẩm nang du ngoạn Berlin, tr.65) của Nabokov nổi bật như một đặc trưng nghệ thuật của ông, ví dụ ông có thể tả cái tất chân, tả vết tàn nhang, cái mũi nhọn, cái máy trợ thính,… đều mang tính cụ thể để khái quát cá tính nhân vật.
Vẻ đẹp văn chương của Vladimir Nabokov - Ảnh 1.
Tập truyện "A Russian Beauty" (Vẻ đẹp Nga)Ảnh: TRẦN LÊ
Vẻ đẹp nhân hậu và trắc ẩn của Nabokov mềm mại đến nỗi khiến độc giả yêu thương luôn các nhân vật của ông, sợ chẳng may kết thúc làm đau nhân vật của mình. Ví dụ như câu chuyện về kết thúc cuộc đời của cô gái xinh đẹp quý tộc Nga (Mỹ nhân Nga), cách báo tin về cái chết của cậu con trai cho người mẹ (Báo tin), số phận của chàng trai bị thiểu năng (Dấu hiệu và biểu hiện), cuộc đời lang thang của hai anh em song sinh dính liền (Cảnh đời một quái vật kép),…Nabokov thường chọn kết thúc lửng lơ, nửa chừng theo cách "đem lại ấn tượng bất ngờ bằng cách kết thúc tự nhiên nhất" (Hành khách, tr.119). Lạ thay, kết thúc này không làm độc giả hụt hẫng mà thở phào vì đỡ chứng kiến sự đau đớn có thể tưởng tượng nếu kết thúc đi đến tận cùng.
Nuối tiếc quá vãng
Nabokov tự nhận mình là "nhà văn tha hương" (Lá thư đến nước Nga, tr.42). Gần hết 17 truyện ngắn trong tập truyện đều bàng bạc dấu vết Nga. Hồi ức Nga đậm đặc trong từng chữ, câu, suy nghĩ của nhân vật: thuốc lá Nga, quý tộc Nga, mỹ nhân Nga, các ngày lễ kiểu Nga, thậm chí đến cả cách cắt tóc của thợ cạo Nga,… Sinh ra ở Petersburg, Nabokov thường xuyên nhắc đến thành phố tuyệt đẹp này với những ký ức không thể nào quên như đại lộ Nevski chẳng hạn. Không mang màu sắc hận thù, dè bỉu, chỉ có nỗi nhớ quay quắt về nước Nga như truyện "Ma Cây", "Lá thư đến nước Nga", "Mối tình đầu", "Mưa Phục sinh", "Mỹ nhân Nga", "Dao cạo",…
Lấy tựa truyện "A Russian Beauty" (Vẻ đẹp Nga) làm tựa chung cho cả tập truyện, mặc dù truyện được dịch là "Mỹ nhân Nga" vì nhân vật chính là một cô gái quý tộc Nga xinh đẹp, tôi có cảm giác dịch giả có lẽ cũng muốn nói đến chủ đề chung của tập truyện này: Vẻ đẹp Nga quá vãng qua nhãn quan tràn đầy lòng trắc ẩn, nuối tiếc của Nabokov. Khép sách lại, là một giọt nước mắt lăn xuống cho thân phận những người Nga tha hương. 
TRẦN LÊ HOA TRANH

https://nld.com.vn/van-nghe/ve-dep-van-chuong-cua-vladimir-nabokov-20180604211319688.htm

10 August 2018

Lolita tái bản lần 13

Lolita tái bản lần 13, in xong cuối tháng 6 năm 2018




30 June 2018

"Thanh âm" được in xong ngày 26 tháng 6 năm 2018


24 December 2017

Lolita: tái bản lần 12, in xong tháng 12 năm 2017



Lolita tái bản lần thứ 12. Có một số chỗ được biên tập lại, khá nhiều từ được phiên âm cho chính xác hơn để bản dịch thống nhất hơn. 

Như vậy, năm nay Lolita cũng tái bản được 3 lần, có thể gọi đó là một thành công của một bản dịch đã ra đời được 3 năm. Mặc dù, tất nhiên, nó không còn được bán nhanh và nhiều như năm đầu (chắc do anti-fan sủa hoài cũng mệt, mà dịch giả thì lười trả tiền thuê lấy vài con.)

4 December 2017

Tự sự về một kẻ đánh mất quê hương

HẢI ĐĂNG

Bài đăng trên báo Thời Nay, một ấn phẩm của Nhân Dân



Không bao giờ trở về nước Nga kể từ năm 1918, “tư cố hương” vì vậy là chủ đề lớn trong văn nghiệp của Vladimir Nabokov (1899 - 1977), mà minh chứng sống động nhất là “Pnin” - cuốn tiểu thuyết đem lại cho tác giả đề cử giải thưởng danh giá National Book Award năm 1958.



Nội dung của “Pnin” như nhan đề giản đơn của sách tường thuật quãng đời trầm lặng của vị GS gốc Nga Timofey Pnin. Đến Mỹ theo lời khuyên từ đồng nghiệp cũ, “giấc mơ Mỹ” của Pnin sớm kết thúc khi chỉ được phân công dạy tiếng Nga tại trường đại học địa phương Waindell. Khác biệt về văn hóa cùng sự sùng bái nghệ thuật Nga biến mọi hành động của Pnin trở thành một chuỗi hình ảnh kỳ quặc trong mắt các giảng viên và sinh viên đại học.

Mang nhiều nét tương đồng với cuộc đời V.Nabokov, hình tượng Pnin là một bức tự họa trào phúng của tác gia kiêm giáo sư văn chương thiên tài và cực đoan này. Như tiểu sử nhà văn, Pnin đã tham gia lực lượng “bạch vệ” phản cách mạng từ năm 18 tuổi. Khi nội chiến Nga kết thúc, Pnin đã lưu vong qua Đức, Pháp và cuối cùng đặt chân lên Mỹ. Nhưng không ở đâu mà Pnin được toại nguyện với việc ngợi ca ngôn ngữ Nga, được bình phẩm về những áng văn chương của Tolstoy hay chìm đắm trong miền thôn quê xứ bạch dương hoang vắng và bình yên. Tại Mỹ - “miền đất hứa”, người ta chỉ coi Pnin - như một “khách ở trọ” phiền nhiễu, xếp sau cả các giáo sư văn chương bất tài cùng những nhà nữ quyền nửa mùa. Bi kịch đến đỉnh điểm khi Pnin tình cờ xem được một bộ phim tài liệu Xô-viết “hết thảy là nghệ thuật thuần túy, những dịp hội hè đình đám, và niềm hân hoan trong các công việc tuy cực nhọc nhưng rất đáng tự hào”. Đôi mắt Pnin đã nhòa lệ, song thói ngoan cố vẫn khiến Pnin tự nhủ mình thật “kỳ quặc, lố bịch, nhục nhã”. Tác phẩm để mở kết thúc bằng chi tiết Pnin phải nghỉ việc dạy học tại Waindell.

Ẩn chứa cái nhìn và ngôn ngữ kể chuyện của một kẻ “thiếu quê hương” nhưng tiểu thuyết “Pnin” không sa vào những chủ đề phi chính trị của một vài nhà văn lưu vong như “người đương thời” Solzhenitsyn hay S. Rushdie sau này. Thay vào đó, bằng những hồi tưởng và vốn văn hóa uyên thâm của mình, V.Nabokov đã khéo léo phục dựng một đất nước Nga vĩ đại với nền nghệ thuật đáng khâm phục qua câu chuyện bi hài về GS Pnin “có đôi chân gầy guộc” cùng thứ “tiếng Anh trọ trẹ”.

Vốn là “gã hề trong rạp xiếc” văn chương với thú chơi chữ, phong cách giễu nhại hài hước đến cay nghiệt như nhận xét của I. Bunin, V.Nabokov đã “phù phép” những ngày tháng quạnh hiu của Pnin hóa thành tràng cười sảng khoái với nhiều độc giả. Nhưng sau tiếng cười ấy, người đọc phải rùng mình trước nỗi bất hạnh mà Pnin đang nếm trải chỉ vì sự bồng bột của tuổi trẻ, những nghịch cảnh do chiến tranh gây ra mà không ít tác phẩm văn học Xô-viết nổi tiếng như “Sông Đông êm đềm”, “Người thứ 41” từng lột tả thành công.

(Tiểu thuyết “Pnin”, Vladimir Nabokov, Thiên Lương dịch, NXB Văn học 2017).