NABOKOV

Humbert và Lolita

Phim Lolita.

Lolita

Phim Lolita

Lolita

Phim Lolita

Nabokov

Life

Lolita và Humbert

Phim Lolita

15 Oct 2014

Cảnh đời một quái vật kép

VLADIMIR NABOKOV

Thiên Lương dịch
Bản quyền bản dịch này thuộc về dịch giả.




Vài năm trước, bác sỹ Fricke có đưa Lloyd và tôi một câu hỏi mà giờ đây tôi sẽ thử trả lời. Với nụ cười mơ màng vì sự thích thú thuộc về khoa học, ông vuốt ve dải sụn béo gắn kết chúng tôi — omphalopagus  diaphragmo-xiphodidymus, như Pancoast từng đặt tên cho một ca tương tự —  và muốn biết liệu chúng tôi có thể nhớ lại lần đầu tiên mỗi đứa, hoặc cả hai, nhận thức được tính khác thường của thân phận và định mệnh mình hay không. Tất cả những gì Lloyd có thể nhớ là cái cách mà ông ngoại Ibrahim (hoặc Ahim, hoặc Ahem — những mớ âm đục khó chịu với thính giác ngày nay!) thường sờ mó cái mà bác sỹ sờ mó và gọi nó là chiếc cầu vàng. Tôi chẳng nói gì.

Tuổi thơ chúng tôi trôi qua ở đỉnh một ngọn đồi màu mỡ nằm trên biển Đen, tại trang trại gần Karaz của ông ngoại chúng tôi. Con gái út của lão, đoá hồng phương đông, viên ngọc trai của Ahem tóc bạc (nếu thế thì thằng già vô lại ấy lẽ ra phải chăm nom cô tốt hơn) đã bị ông thân sinh vô danh của chúng tôi cưỡng hiếp trong một vườn cây ăn quả ven đường và đã chết ngay sau khi sinh chúng tôi — do quá đỗi khiếp sợ và buồn đau, theo như tôi hình dung. Một loạt lời đồn đại nhắc đến một gã bán rong người Hung-ga-ry; lời đồn khác thiên về một gã sưu tập chim người Đức hoặc một thành viên nào đó trong đoàn thám hiểm của gã — nhiều khả năng nhất là người nhồi bông thú. Các bà dì da màu, nặng trĩu trang sức, mặc đồ rộng thùng thình đượm mùi tinh dầu hoa hồng và thịt cừu, chăm lo với thái độ thích thú ma quái các nhu cầu thời thơ ấu quái dị của chúng tôi.

Các ngôi làng lân cận sớm nghe được tin kinh hoàng này và bắt đầu cử đến trang trại chúng tôi những kẻ hiếu kỳ lạ mặt khác nhau. Vào các ngày lễ hội, có thể nhìn thấy họ lết lên sườn đồi, như những người hành hương trong các bức tranh màu sắc rực rỡ. Có một mục phu cao hai mét mốt, một người đàn ông nhỏ con đầu hói đeo kính, các quân nhân, và những chiếc bóng kéo dài của những cây bách. Bọn trẻ con cũng đến, vào mọi lúc, và bị các cô bảo mẫu ganh ghét của chúng tôi xua đi; nhưng gần như ngày nào cũng có một thanh niên mắt-đen, tóc-cắt-ngắn nào đó, mặc quần phai màu lam với những miếng vá thẫm, tìm được cách luồn qua các cây sơn thù du, cây kim ngân, cây Giu-đa vặn vẹo, vào khoảnh sân lát đá cuội có vòi phun nước cũ nhớt nhát nơi Lloyd cùng Floyd bé bỏng (hồi ấy chúng tôi còn có những cái tên khác, đầy ắp khí âm của quạ —  nhưng chẳng thành vấn đề) ngồi lặng lẽ nhai mơ khô dưới bức tường sơn trắng. Sau đó, đột nhiên chữ H biến thành chữ I, số hai La Mã thành một, cây kéo thành con dao. 

Đương nhiên không thể so sánh giữa va chạm nhận biết này, dù cho nó từng gây náo loạn đến thế nào, với cú sốc cảm xúc mà mẹ của tôi đã nhận (nhân thể, có niềm hạnh phúc thuần khiết biết bao trong việc sử dụng cẩn trọng cái từ sở hữu số ít này!). Bà hẳn phải ý thức được là bà đã sinh ra một cặp đôi; nhưng khi bà biết, mà chắc chắn bà đã biết, rằng hai đứa bé song sinh bị nối liền thành một — thì lúc đó bà đã trải qua những gì nhỉ?  Với loại họ mạc thiếu kiềm chế, dốt nát, mê đưa chuyện vây quanh chúng tôi, lũ người nhà to mồm ngay bên kia cạnh chiếc giường xáo lộn của bà, rõ ràng là, đã ngay lập tức thông báo cho bà rằng có điều gì đó bất thường khủng khiếp xảy ra; và có thể chắc chắn rằng các chị của bà, trong cơn cuồng điên hoảng sợ và xót thương, đã cho bà thấy đứa bé kép. Tôi không định nói là người mẹ không thể yêu thương một thực thể kép như vậy — và nhờ tình yêu ấy mà quên được những giọt sương tăm tối từ nguồn gốc vô đạo của nó; tôi chỉ nghĩ rằng sự pha trộn giữa cảm giác kinh hãi, lòng thương, cùng tình mẹ đã vượt quá sức bà. Cả hai thành phần tập kép, trước đôi mắt đăm đắm của bà, là các thành phần nhỏ xinh, khoẻ mạnh, có lông tơ vàng óng mượt trên những cái sọ tím-hồng, và những cái tay cái chân hình dạng xinh xẻo như được làm bằng cao su, cử động như các chi của con thú biển lạ kỳ nào đó. Mỗi đứa bình thường thấy rõ, nhưng gắn với nhau thì chúng lại tạo thành hình một quái vật. Quả thật, có gì đó kỳ lạ khi nghĩ rằng sự hiện diện của một giải mô đơn thuần, một lát thịt không dài hơn nhiều so với gan cừu non, lại có thể biến niềm vui, sự hãnh diện, dịu dàng, tình yêu say đắm, lòng biết ơn trước Chúa thành nỗi kinh sợ và tuyệt vọng. 

Trong hoàn cảnh chúng tôi thì mọi thứ đơn giản hơn nhiều. Người lớn quá khác chúng tôi về mọi phương diện để có thể có bất cứ sự tương đồng nào, nhưng vị khách cùng tuổi đầu tiên đã là một khám phá dịu êm đối với tôi. Trong lúc Lloyd bình thản ngắm cậu bé đang khiếp sợ tầm bảy hoặc tám tuổi, kẻ đang chăm chú nhìn chúng tôi từ dưới một cây sung nổi bướu và dường như cũng đang nhìn chăm chú, tôi còn nhớ là đã nhận thức trọn vẹn sự khác biệt cốt yếu giữa kẻ mới đến và tôi. Cậu buông chiếc bóng ngắn màu xanh lam lên mặt đất, và tôi cũng làm như thế; nhưng thêm vào bạn đồng hành sơ sài, bẹt dí, hay thay đổi ấy, kẻ mà cậu với tôi có được nhờ ơn mặt trời và là kẻ biến đâu mất trong thời tiết âm u, tôi còn sở hữu chiếc bóng khác nữa, một ánh phản chiếu rõ như thể sờ mó được của chính nhục thể bản thân tôi, mà tôi luôn có bên mình, phía trái, trong khi vị khách của tôi đã xoay xở bằng cách này cách khác để đánh mất chiếc của mình, hoặc đã cởi được nó ra và để ở nhà. Lloyd với Floyd là một thực thể liên kết trọn vẹn và bình thường, cậu ấy thì không. Nhưng, để làm sáng tỏ những vấn đề này một cách triệt để như chúng xứng đáng được như vậy, có lẽ tôi cần nói đôi điều về các ký ức sớm hơn nữa. Trừ khi xúc cảm tuổi trưởng thành đã làm hoen ố những gì đã qua, tôi nghĩ tôi có thể chứng thực các hồi tưởng về một sự ghê tởm mờ nhạt nào đó. Do bị ghép đôi phía đằng trước, nên lúc đầu chúng tôi nằm mặt đối mặt, nối kết tại cái rốn chung, còn mặt tôi, trong những năm tồn tại đầu tiên ấy, luôn bị cọ quẹt bởi cái mũi cứng và đôi môi ướt của người anh em sinh đôi. Xu hướng ngửa đầu ra sau và ngoảnh mặt xa nhau nhiều nhất có thể chính là phản ứng tự nhiên với các tiếp xúc gây khó chịu ấy. Tính mềm dẻo tuyệt diệu của dải liên kết cho phép chúng tôi có thể tương hỗ giả lập một tư thế ít nhiều có vẻ sát cánh bên nhau, và lúc học đi thì chúng tôi bước lạch bạch loanh quanh theo tư thế kề vai sát cánh này, cái tư thế chắc hẳn có vẻ miễn cưỡng hơn nó thật sự là, và tôi cho rằng, nó làm cho chúng tôi nhìn y như một cặp chú lùn say xỉn đang dựa vào nhau. Suốt một thời gian dài, khi ngủ, chúng tôi cứ gắng quay lại tư thế bào thai; song mỗi lần sự bất tiện mà nó gây ra làm chúng tôi thức giấc, thì chúng tôi lại ngật mặt ra xa, ngoái đầu một cách kinh tởm, với tiếng rền rĩ kép. 

Tôi khẳng định rằng, vào lúc lên ba hay bốn tuổi, các cơ thể chúng tôi láng máng không ưa mối liên kết khó xử của chúng, trong khi tâm trí chúng tôi lại không thắc mắc về tính bình thường của nó. Sau đó, trước khi chúng tôi có thể thầm nhận thức thấy các mặt hạn chế của nó, thì trực giác nhục thể đã khám phá ra cách làm dịu chúng, và về sau chúng tôi hầu như không nghĩ đến chúng nữa. Mọi chuyển động của chúng tôi trở thành một sự thỏa hiệp cẩn trọng giữa chung và riêng. Mẫu hành vi được gợi lên bởi ham muốn thôi thúc qua lại lẫn nhau nọ kia đã tạo nên một dạng phông nền xám xịt, dệt phẳng phiu, có tính khái quát mà trên đó, cơn bốc đồng riêng biệt, của cậu ấy hoặc của tôi, bám theo một tiến trình sáng sủa hơn hoặc sắc nét hơn; nhưng (được dẫn lối, nói sao nhỉ, bởi nếp uốn lượn của họa tiết phông nền) nó không bao giờ đi ngược lại được sự nối kết chung hoặc ý muốn bất chợt của kẻ song sinh kia. 

Hiện giờ tôi chỉ nói về tuổi thơ, khi tự nhiên chưa thể cho phép chúng tôi hủy hoại thứ sinh lực mà chúng tôi đã rất khó khăn mới giành được bằng bất cứ mâu thuẫn nào giữa hai đứa. Vào những năm sau, tôi từng có dịp hối tiếc rằng chúng tôi đã không bỏ mạng hoặc không được mổ tách ra, trước lúc chúng tôi qua giai đoạn khởi thủy ấy, khi mà một nhịp điệu hiện diện mãi mãi, tựa tựa như tiếng vỗ tum-tum xa xăm trong khu rừng thẳm của hệ thần kinh chúng tôi, đơn độc chịu trách nhiệm về việc điều khiển các hoạt động của chúng tôi. Chẳng hạn, lúc một đứa chúng tôi sắp cúi người để tự đoạt lấy một bông cúc dễ thương, còn đứa kia, đúng ngay khoảnh khắc ấy, lại đang rướn lên để hái một trái sung chín, thì sự thành công cá nhân phụ thuộc vào việc chuyển động của đứa nào ngẫu nhiên phù hợp với phách nhấn hiện thời của nhịp điệu chung và liên tục của chúng tôi, và rồi thì, với một cái rùng mình cực ngắn, tựa như mắc chứng múa giật, các cử chỉ ngắt quãng của một đứa song sinh sẽ bị nuốt chửng và bị hòa lẫn vào những gợn sóng được làm cho phong phú hơn thuộc hành động đã hoàn thành của đứa kia. Tôi nói “được làm cho phong phú hơn” bởi lẽ bóng ma của bông hoa không hái được ấy dường như vì lý do nào đó cũng ở nơi đó, thổn thức đập giữa các ngón tay đang khép lại trên trái cây kia. 

Có lẽ đã có giai đoạn dài hàng tuần hay thậm chí hàng tháng, khi nhịp đập dẫn dắt hay ở bên Lloyd nhiều hơn nhiều so với bên tôi, sau đó có lẽ đến giai đoạn khi tôi lên được ngọn sóng; nhưng tôi không thể nhớ lại bất cứ thời gian nào vào thời thơ ấu khi trắc trở hoặc thành công ở những chuyện này đã gợi lên trong cả hai đứa nỗi oán giận hay niềm kiêu hãnh nào. 

Tuy nhiên, đâu đó trong tôi, hẳn vẫn có tế bào nhạy cảm nào đó kinh ngạc trước sự thật lạ lùng về một sức mạnh đã có thể đột ngột cuốn tôi xa khỏi đối tượng của một ham muốn bất chợt và kéo tôi tới những thứ khác, những thứ chẳng ai ham muốn, những thứ đã len vào phạm vi nguyện ước của tôi để tránh bị vươn đến và bọc lại một cách cố ý bởi các xúc tu của nó. Vì vậy, trong lúc quan sát đứa trẻ tình cờ này nọ đang quan sát Lloyd và tôi, tôi nhớ là mình đã cân nhắc một vấn đề kép: thứ nhất là, không biết liệu trạng thái nhục thân đơn độc thì có thể có nhiều lợi thế hơn trạng thái mà chúng tôi đang sở hữu hay không; và thứ nhì là, không biết liệu tất cả các đứa trẻ khác có đơn độc hay không. Lúc này, tôi chợt nghĩ rằng, những vấn đề rất hay làm tôi bối rối lại thường mang tính kép: có lẽ một dòng suy nghĩ của Lloyd đã thấm vào tâm trí tôi và một trong hai vấn đề gắn kết với nhau đó thuộc về cậu ấy. 

Khi ông ngoại tham lam Ahem quyết định trưng chúng tôi ra cho khách xem để thu tiền, giữa đám đông đến nơi ấy luôn có thằng nhãi ranh háo hức nào đó muốn nghe chúng tôi nói chuyện với nhau. Như vẫn xảy ra với các trí óc thô sơ, gã yêu cầu là tai gã phải chứng thực được những gì mắt gã nhìn thấy. Mấy người bà con thúc ép chúng tôi làm vừa lòng các yêu cầu như thế và không thể hiểu tại sao lại phải khổ sở đến vậy vì chúng. Chúng tôi có thể vin cớ nhút nhát; nhưng sự thật thì chúng tôi chẳng bao giờ thật sự nói chuyện với nhau, thậm chí cả khi ở một mình, bởi những tiếng càu nhàu đứt quãng ngắn ngủn từ lời trách móc hiếm hoi mà chúng tôi thỉnh thoảng trao đổi (chẳng hạn, khi một đứa vừa mới cắt vào chân nó và đang phải băng bó, còn đứa kia muốn đi lội suối) thật khó có thể cho là cuộc đối thoại. Giao tiếp về những cảm giác đơn giản thiết yếu được chúng tôi thực hiện mà chẳng cần lời: những chiếc lá rụng lênh đênh trôi theo dòng máu chúng tôi chia sẻ cùng nhau. Những ý nghĩ mong manh cũng xoay xở tìm cách lẻn qua và chu du giữa chúng tôi. Những thứ phong phú hơn được từng đứa giữ lại cho riêng mình, nhưng thậm chí lúc ấy cũng xảy ra những hiện tượng dị thường. Đấy là nguyên nhân tại sao tôi nghi ngờ rằng bất chấp bản tính điềm tĩnh của cậu ấy, Lloyd cũng vật lộn với cùng những thực tại mới, những thứ làm tôi bối rối. Khi lớn lên, cậu ấy lãng quên nhiều điều. Tôi thì chẳng quên gì. 

Công chúng không chỉ mong ngóng chúng tôi nói chuyện, họ còn muốn chúng tôi chơi đùa với nhau. Lũ đần! Họ kiếm được khá nhiều niềm vui từ việc chúng tôi đấu trí về cờ đam hoặc muzla. Tôi tin rằng giả dụ chúng tôi tình cờ lại là cặp sinh đôi khác giới tính thì có lẽ họ sẽ bắt chúng tôi phải phạm tội loạn luân ngay trước mặt họ. Nhưng vì các trò chơi tương tác cũng không quen thuộc với chúng tôi hơn các cuộc chuyện trò, nên chúng tôi phải chịu đựng nỗi đau khó thấy khi buộc phải thực hiện đến cùng các cử động gò bó để ném qua ném lại một quả bóng ngay tại nơi nào đó giữa xương ức hoặc giả bộ như đang cố giành nhau một cái que. Chúng tôi thu hút được những tràng vỗ tay điên cuồng bằng cách choàng tay qua vai nhau chạy quanh sân. Chúng tôi biết cả nhảy và quay tròn. 

Một người buôn bán biệt dược, một gã nhỏ con hói đầu mặc áo bờ lu Nga màu trắng-bẩn, biết bập bõm chút tiếng Thổ và tiếng Anh, dạy chúng tôi vài câu bằng các thứ tiếng này; sau đó chúng tôi phải trình diễn khả năng của mình cho đám khán giả bị mê hoặc ấy xem. Những bộ mặt hừng hực của họ vẫn còn truy đuổi tôi trong những cơn ác mộng, bởi lẽ chúng xuất hiện mỗi khi tay đạo diễn giấc mơ của tôi cần diễn viên phụ. Tôi lại thấy gã mục phu khổng lồ mặt màu đồng mặc bộ quần áo nhiều màu rách tả tơi, những quân nhân đến từ Karaz, ông thợ may lưng gù chột mắt người Ác-mê-ni (một quái vật tự thân), những cô gái cười rúc rích, những bà già thở dài, những đứa trẻ con, gã thanh niên mặc quần áo miền Tây — những ánh mắt thiêu đốt, những chiếc răng trắng ởn, những cái mồm há hốc đen ngòm; và, đương nhiên cả ông ngoại Ahem, cùng cái mũi vàng ngà và bộ râu len xám, điều khiển buổi diễn hoặc đếm những tờ tiền giấy bẩn thỉu và thấm ướt ngón tay cái to tướng. Nhà ngôn ngữ học, đầu hói áo bờ lu thêu, ve vãn một trong số các bà dì tôi nhưng vẫn không ngừng quan sát Ahem một cách đầy ganh tị qua cặp kính gọng thép.             

Vào quãng chín tuổi, tôi đã biết rất rõ rằng Lloyd và tôi là những quái vật hiếm có nhất. Nhận thức này không khơi gợi trong tôi bất cứ niềm tự hào đặc biệt nào lẫn nỗi xấu hổ đặc biệt nào; nhưng, lần nọ, một mụ đầu bếp cuồng loạn, một phụ nữ có ria mép, người hết sức yêu quý chúng tôi và xót thương cảnh ngộ chúng tôi, tuyên bố với một lời thề tàn tệ rằng mụ sẽ, luôn và ngay, lạng chúng tôi ra làm hai bằng con dao sáng loáng mà mụ thình lình huơ lên (mụ ngay lập tức bị ông ngoại cùng một trong các ông chú nhặt mới toanh của chúng tôi chế ngự); và sau vụ lôi thôi này tôi thường được an ủi bởi một mộng ước mơ màng biếng nhác, tưởng tượng mình không biết làm sao mà lại được tách ra khỏi Lloyd đáng thương, còn cậu ấy không biết làm sao mà vẫn cứ kẹt lại ở thời yêu quái của mình. 

Tôi không quan tâm đến vụ con dao, và dẫu sao chăng nữa thì cái lối chia cắt ấy vẫn còn rất mơ hồ; nhưng tôi hình dung một cách hết sức rõ rệt về sự tan biến đột ngột những xiềng xích của mình, cùng cảm giác nhẹ nhõm và lõa lồ sẽ xảy ra sau đó. Tôi hình dung tôi  leo qua hàng rào — một hàng rào với những chiếc đầu lâu được tẩy trắng của trại súc vật đã đặt chúng lên các đầu cọc rào — và thả bộ xuống dần về phía bờ biển. Tôi hình dung tôi nhảy qua hết tảng đá mòn này đến tảng đá mòn khác và nhào xuống biển nhấp nhánh, trườn ngược về bờ và chạy tung tăng xung quanh cùng những đứa trẻ trần truồng khác. Tôi mơ về điều này ban đêm – thấy tôi bỏ trốn khỏi ông ngoại và đem theo mình một món đồ chơi, hay con mèo con, hay con cua nhỏ xíu mà tôi riết chặt vào bên thân trái. Tôi thấy chính mình gặp Lloyd đáng thương, cậu xuất hiện trong giấc mơ của tôi và tập tễnh bước theo, tuyệt vọng nối người với một đứa trẻ sinh đôi tập tễnh vào lúc tôi tự do nhảy múa quanh chúng và vỗ lên những cái lưng khúm núm của chúng.  

Tôi tự hỏi, không biết Lloyd có những ảo cảnh tương tự hay không. Bác sỹ cho là chúng tôi đôi khi hòa lẫn tâm tưởng khi mơ. Một buổi sáng xanh-xám nọ, cậu ấy nhặt cái cành nhỏ lên và vẽ một con tàu ba buồm trên bụi. Tôi vừa thấy chính mình vẽ con tàu ấy lên bụi mờ ở giấc mơ mà tôi mơ đêm trước.

Chiếc áo choàng mục phu lụng thụng màu đen phủ lên vai chúng tôi, và, khi chúng tôi ngồi xổm lên nền đất, tất cả, ngoài đầu chúng tôi và tay Llyod, bị che khuất trong những nếp gấp xõa xuống của nó. Mặt trời mới mọc và không khí buốt giá tháng Ba tựa như những lớp băng bán trong suốt chồng lên nhau, xuyên qua chúng những cây Giu-đa cong queo đang nở hoa rậm rịt tạo ra các đốm nhoè nhoẹt màu hồng tía. Ngôi nhà dài, thấp, trắng đằng sau chúng tôi, chật ních những mụ béo và các ông chồng bốc mùi hôi hám của họ, đang ngủ mê mệt. Chúng tôi không nói không rằng; chúng tôi thậm chí không nhìn nhau, nhưng, quăng cành cây của mình ra xa, Lloyd choàng tay phải quanh vai tôi, như cậu vẫn luôn làm mỗi khi muốn cả hai đi nhanh; và cùng viền trang phục chung quét lê giữa những cây cỏ dại chết chóc, còn những viên sỏi cứ chảy dưới chân, chúng tôi tiến về phía lối mòn mọc đầy cây bách dẫn xuống bờ biển. 

Đấy là lần đầu tiên chúng tôi thử thăm quan biển, nơi chúng tôi có thể nhìn thấy từ đỉnh đồi, nhấp nhánh sáng xa xa và nhàn nhã, âm thầm vỡ tan vào những tảng đá bóng loáng. Tôi không cần kéo căng ký ức mình tại điểm này để neo cuộc trốn chạy vấp váp của chúng tôi vào một chỗ ngoặt xác quyết trong định mệnh hai đứa. Vài tuần trước, vào ngày sinh nhật lần thứ mười hai của chúng tôi, ông ngoại Ibrahim bắt đầu đùa giỡn với ý tưởng gửi chúng tôi đi cùng đoàn ông chú mới nhất cho chuyến lưu diễn sáu tháng xuyên đất nước. Họ vẫn đang mặc cả về các điều khoản, và cãi vã thậm chí đánh nhau, mà Ahem vẫn trên cơ. 

Chúng tôi sợ ông ngoại và ghét Chú Novus. Có lẽ, theo cái lối đần độn tội nghiệp của mình (chẳng biết gì về cuộc sống, nhưng lơ mơ nhận thấy Chú Novus đang ráng lừa bịp ông ngoại) chúng tôi cảm thấy có lẽ nên thử làm điều gì đó để ngăn ông bầu sô ấy lăn chúng tôi đi đó đi đây trong một nhà ngục di động, như lũ dã nhân hay bọn đại bàng; hay có lẽ chúng tôi đã bị thúc đẩy đơn thuần bởi ý nghĩ rằng đây là cơ hội cuối cùng để tận hưởng tự do nhỏ nhoi của mình và làm điều gì đó vẫn bị cấm ngặt; vượt qua hàng rào cắm cọc nào đó, mở cánh cổng nào đó. 

Chúng tôi thoát lên được đường cái, vài bước cách biển có-thể-nghe-rõ — và ở đó, chờ chúng tôi dưới cây bách, là cỗ xe ngựa mà chúng tôi đã biết, một thứ nhìn như chiếc xe thồ trên những cái bánh cao, cùng Chú Novus đang leo xuống khỏi thùng xe. Một con người nhỏ nhen, xảo quyệt, nham hiểm, tham vọng, bất lương! Vài phút trước đây, y nhìn thấy chúng tôi từ một trong những hàng hiên nhà ông ngoại và không thể cưỡng lại được sự cám dỗ từ việc lợi dụng vụ đào tẩu cho phép y cướp được chúng tôi một cách kỳ diệu mà không cần đến bất cứ vật lộn hay la hét nào.  Vừa chửi hai con ngựa sợ sệt, y vừa thô bạo giúp chúng tôi vào xe. Y đẩy đầu chúng tôi xuống và dọa sẽ làm chúng tôi đau nếu chúng tôi cố kêu chiêm chiếp dưới chiếc áo choàng của mình. Tay Lloyd vẫn còn quàng quanh vai tôi, nhưng cú xốc mạnh thình lình của chiếc xe thồ đã giũ nó ra. Giờ thì bánh xe nghiến răng rắc và lắc lư lăn. Mất chút thời gian, chúng tôi mới nhận ra rằng gã đánh xe không đưa chúng tôi về nhà.

Hai mươi năm đã trôi qua từ buổi sáng xuân xám xịt ấy, nhưng nó còn được lưu giữ trong tâm trí tôi tốt hơn nhiều so với nhiều sự kiện xảy ra sau đó. Tôi cho nó chạy đi chạy lại trước mắt mình tựa một đoạn phim điện ảnh, như tôi đã từng thấy những nghệ sỹ múa rối vĩ đại làm khi duyệt lại màn kịch của họ. Vậy nên tôi duyệt lại mọi giai đoạn và tình huống và chi tiết ngẫu nhiên của cuộc đào tẩu chết yểu của chúng tôi — cú rùng mình khởi thủy, cái cổng, con cừu, con dốc trơn tuột dưới những cái chân vụng về. Với những con chim hét đã bị chúng tôi xua cho bay lên thì chúng tôi chắc hẳn đã phô ra một cảnh tượng lạ thường, với chiếc áo choàng đen ấy bao quanh người và hai cái đầu tóc xén trên những cần cổ gày gò ló ra khỏi áo. Những cái đầu quay qua quay lại, đầy cảnh giác, lúc, cuối cùng thì, đã đến đường cái ven biển. Giả như vào đúng lúc ấy, một kẻ xa lạ thích phiêu lưu nào đó đặt chân lên bờ biển từ chiếc tàu trong vịnh, hẳn là hắn được trải nghiệm sự rộn ràng của một trạng thái bị mê hoặc cổ xưa khi thấy chính mình đối mặt với quái vật thần thoại hiền lành giữa cảnh tùng bách và đá trắng. Hắn sẽ tôn sùng nó, hắn sẽ để rơi những giọt lệ ngọt ngào. Nhưng, than ôi, chẳng có ai đón chào chúng tôi nơi đó ngoài kẻ lừa đảo bồn chồn ấy, kẻ bắt cóc nóng nảy ấy, một người đàn ông nhỏ con có gương mặt búp bê đeo cặp kính rẻ tiền, một mắt kính được gắn lại bằng đoạn băng. 

Truyện ngắn này đã được đăng trên tạp chí Sông Hương số đặc biệt, tháng 9 năm 2014.
Bản quyền bản dịch thuộc về dịch giả, ai sử dụng bản dịch phải có sự đồng ý của dịch giả.


3 Oct 2014

Nửa bẹn, Nguyên đầu!



Có quan điểm cho rằng chất lượng một bản dịch thế nào thì hãy để độc giả đánh giả, nói cách khác là không nên phê bình bản dịch về mặt chuyên môn, miễn là độc giả đọc thấy xuôi tai là được. Tuy nhiên, tôi cho rằng quan điểm đó là của bọn con buôn bất lương, chứ không phải của dân có học. Độc giả bình thường, nói thẳng ra, không thể đánh giá chất lượng bản dịch nói riêng và các tác phẩm văn chương lớn nói chung. Thứ nhất là do độc giả là một khái niệm khá trừu tượng, không thể xác định thế nào gọi là một độc giả trung bình. Độc giả là ai? Một cô bé sinh viên? Một cậu bé đánh giày? Một giáo sư đại học? Hay một quả phụ bán hàng đa cấp? Chẳng ai định nghĩa được. Và nếu độc giả chỉ thuộc tầng lớp thấp trong xã hội, thì việc họ đánh giá cao một tác phẩm nào đó, đôi khi chỉ là dấu hiệu của chất lượng thảm hại của nó mà thôi. Các tác phẩm linh tinh vẫn bán được hàng chục ngàn bản đấy, và điều đó có nói lên được gì về chất lượng của chúng hay không? Thứ hai là do độc giả không tiếp cận được bản gốc và không có khả năng đọc hiểu bản gốc, thì làm sao họ đánh giá được bản dịch? Bản dịch có thể đọc rất xuôi, rất thơ, rất vào,... nhưng hoàn toàn sai so với bản gốc thì sao? Và nếu tác giả viết rườm rà, khó hiểu, cao siêu, dịch giả dịch thành mượt mà, dễ hiểu, chân chất, thì là dịch giỏi hay dịch dốt?

Để minh họa cho ý kiến trên đây, tôi sẽ đưa lại một đoạn dịch của Dương Tường trong chương 29, phần I, Lolita:


Nguyên bản tiếng Anh:

When Lolita opened her eyes again, I realized that whether or not the drug might work later in the night, the security I had relied upon was a sham one. Slowly her head turned away and dropped onto her unfair amount of pillow. I lay quite still on my brink, peering at her rumpled hair, at the glimmer of nymphet flesh, where half a haunch and half a shoulder dimly showed, and trying to gauge the depth of her sleep by the rate of her respiration.

Đọc đoạn dịch của Dương Tường, độc giả có thể thấy từ "chông chênh" rất hay và "nửa bẹn" rất dâm. Nhưng sự thực là những từ này sai hoàn toàn so với bản gốc. Unfair amount of pillow chẳng liên quan gì đến chồng gối chông chênh cả! Và chỉ có ai tư duy rất có vấn đề mới đọc câu half a haunch and half a shoulder dimly showed mà lại hiểu half a haunch ở đây là nửa bẹn! Về mặt logic, khi Lolita quay người đi thì làm sao Humbert còn nhìn thấy được bẹn của nàng nữa, trừ khi... chui xuống dưới. Chữ haunch ở đây được Nabokov dùng rất đẹp để miêu tả những đường cong ven hông của người con gái nằm nghiêng, nó cũng đầy hình ảnh như câu thơ Trịnh Công Sơn - "gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay", thật đáng thương cho nó khi bị rơi vào bàn tay ông thợ vụng Dương Tường và bị biến thành nửa cái bẹn vô cùng tục tĩu.


Cách chọn từ của Dương Tường vừa ẩu, vừa tục, do thực ra ngoài việc rất dốt tiếng Anh và văn hóa Mỹ, ông ta còn hoàn toàn không hiểu được phong cách viết của Nabokov - luôn đưa tâm trạng của người kể chuyện vào trong câu chữ. Đã không hiểu văn, lại còn cố tình dịch luyên thuyên theo ý mình, nên bản dịch Lolita của Dương Tường hầu như không có gì liên quan đến Lolita của Nabokov.

20 Aug 2014

Dấu hiệu và Biểu hiệu

Vladimir Nabokov
Thiên Lương dịch



I

Đây là lần thứ tư sau cũng ngần ấy năm họ đối mặt với vấn đề: nên mang món quà sinh nhật nào cho chàng trai trẻ đang mắc căn bệnh loạn trí kinh niên. Cậu chẳng có ham muốn nào. Với cậu thì những vật thể do con người tạo ra hoặc là những tổ ong quái ác, bần bật rung cùng một thứ xung động hiểm độc mà cậu không thể nào đơn côi lĩnh hội được, hoặc là những thứ tiện nghi thô thiển mà cậu không biết sử dụng vào đâu trong thế giới trừu tượng của mình.  Sau khi bỏ qua vài vật phẩm có thể làm cậu khó chịu hoặc sợ hãi (chẳng hạn bất cứ thứ gì có thể dùng làm dụng cụ cũng bị cấm), bố mẹ cậu chọn món quà vặt vô hại và ngon lành: một giỏ đựng mười loại mứt trái cây khác nhau trong mười cái lọ nhỏ. 

Ngày cậu ra đời, họ đã cưới nhau được một thời gian khá lâu; hai chục năm trôi nhanh, và giờ thì họ đã già lắm rồi. Mái tóc màu nâu xám của bà đã điểm bạc và được sửa soạn qua quýt. Bà mặc bộ đồ đen rẻ tiền. Không giống những phụ nữ cùng tuổi (giả dụ như Bà Sol, hàng xóm nhà bên cạnh, người có gương mặt hồng và tím hoa cà do trang điểm, đội chiếc mũ là bó hoa ven suối), bà phơi gương mặt trắng bợt trần trụi trước ánh sáng nghiệt ngã của ngày xuân. Chồng bà, một doanh nhân từng khá thành đạt ở đất nước quê hương xưa kia, giờ đây phụ thuộc toàn bộ vào ông em trai Isaac, một người Mỹ thực thụ với gần bốn mươi năm định cư. Họ hiếm khi gặp ông ấy và đặt cho ông biệt hiệu “Hoàng tử.”

Thứ Sáu ấy, mọi chuyện không đâu vào đâu. Tàu điện ngầm bị mất điện nguồn giữa hai ga, và trong khoảng một phần tư giờ, người ta chẳng nghe được gì ngoài tiếng đập mẫn cán của trái tim mình cùng tiếng sột soạt của những tờ báo. Chiếc xe buýt họ phải đón để đi tiếp đã bắt họ đợi đến hàng thế kỷ; và khi nó đến, thì nó đã bị nhồi nhét đầy ngộn lũ học sinh trung học mồm mép tía lia. Trời mưa to khi họ bước theo con đường màu nâu dẫn đến bệnh viện tâm thần. Ở đó, họ lại phải chờ đợi; và thay vì cậu con trai lê chân vào phòng như cậu vẫn thường làm (gương mặt tội nghiệp của cậu lem luốc mụn trứng cá, nham nhở vết râu cạo ẩu, rầu rĩ, bối rối), một cô y tá họ quen mặt, và chẳng quan tâm đến, cuối cùng cũng xuất hiện và vui vẻ giải thích rằng cậu lại vừa cố tìm cách kết liễu đời mình. Cậu đã ổn, cô nói, nhưng chuyến thăm viếng này có thể quấy rầy cậu. Nơi đây thiếu nhân viên một cách khủng khiếp, còn đồ đạc rất dễ bị thất lạc hoặc lộn xộn hết cả, thành thử họ quyết định không để quà lại văn phòng mà mang nó đến cho cậu khi họ quay lại đây lần sau.

Bà chờ chồng mở cây dù rồi sau đó khoác tay ông. Ông không ngừng hắng giọng, theo cái kiểu âm vang đặc biệt như ông vẫn làm mỗi khi phiền muộn. Họ đến trạm chờ xe buýt bên kia phố và ông xếp dù lại. Vài bước gần đó, dưới cái cây ướt sũng đang đung đưa, một con chim nhỏ xíu chưa đủ lông đủ cánh, nửa sống nửa chết, đang bất lực co giật trong vũng nước.

Suốt quãng đường dài đến ga tàu điện ngầm, bà với chồng không trao đổi nửa lời; mỗi khi bà liếc nhìn đôi bàn tay già nua của ông (tĩnh mạch nổi phồng lên, làn da lốm đốm đồi mồi), đang nắm chặt và co giật trên cán chiếc dù, bà thấy nước mắt dâng lên và chỉ chực trào ra. Lúc bà nhìn quanh để cố thử nương tâm trí mình vào cái gì đó, thì bà bỗng hơi sốc, một cảm giác pha trộn giữa thương hại với ngạc nhiên, để ý thấy là một trong số khách đi tàu, một cô gái tóc đen có các móng chân đỏ bầm dơ dáy, đang khóc trên vai một phụ nữ lớn tuổi. Người phụ nữ này giống ai nhỉ? Bà ta giống Rebecca Borisovna, người có đứa con gái lấy một gã nhà Soloveichik — ở Minsk, nhiều năm trước đây.

Lần cuối cùng cậu cố gắng làm chuyện ấy, cách cậu thực hiện là, theo lời bác sỹ, một kiệt tác sáng tạo; lẽ ra cậu đã thành công, nếu như một gã bệnh nhân ganh ghét không nghĩ là cậu đang học bay — và ngăn cản cậu. Việc cậu thật sự muốn làm lại là khoét một lỗ trong thế giới của cậu và trốn thoát. 

Hệ hoang tưởng của cậu từng là chủ đề của nhiều bài nghiên cứu công phu trong nhiều nguyệt san khoa học, nhưng trước đó rất lâu, bà và chồng đã giải đoán được nó rồi. “Chứng hoang tưởng liên hệ,” Herman Brink đã gọi nó như vậy. Trong những ca rất hiếm gặp này thì bệnh nhân hình dung rằng tất tần tật mọi thứ xảy ra xung quanh hắn đều chứa đựng những ám chỉ úp úp mở mở tới cá nhân hắn cùng sự hiện hữu của hắn. Bệnh nhân loại trừ người thật ra khỏi âm mưu — do hắn tự coi mình là thông minh hơn rất nhiều so với những người khác. Thiên nhiên diệu kỳ bí mật theo dõi hắn dù hắn có đi bất cứ nơi đâu. Những đám mây trên bầu trời đăm đắm truyền cho nhau, bằng những dấu hiệu chậm rãi, các thông tin cặn kẽ đến mức không thể tin nổi về hắn. Lúc màn đêm buông xuống, lũ cây cối khoa chân múa tay đầy vẻ ám muội, theo những mẫu tự cử chỉ, luận bàn về những suy nghĩ thầm kín nhất của hắn. Sỏi đá hay vết bẩn hay đốm nắng tạo hình các mẫu hoa văn miêu tả theo cách thức khủng khiếp nào đó những thông điệp mà hắn buộc phải chặn được. Vạn vật là mật mã và hắn là chủ đề của vạn vật. Vài điệp viên là những kẻ theo dõi khách quan, ví dụ như các mặt kính và những vũng nước phẳng lặng; bọn khác, chẳng hạn những chiếc áo khoác trong khoang tủ kính bày hàng, là những chứng nhân đầy định kiến, những đao phủ máu lạnh; những kẻ khác nữa (nước chảy, bão giông) thì cuồng loạn đến mức điên dại, có quan điểm méo mó về hắn và hiểu nhầm một cách lố bịch về các hành vi của hắn. Hắn lúc nào cũng phải cảnh giác đề phòng và dâng hiến từng phút từng mẩu đời mình cho việc giải mã những gợn sóng của vạn vật. Chính thứ không khí hắn thở cũng được lập chỉ mục và lưu trữ lại. Phải chi những mối quan tâm được hắn khêu lên chỉ giới hạn trong vùng môi trường ngay xung quanh hắn thì cũng không sao — nhưng, than ôi, chuyện không phải như vậy! Càng xa cách, những luồng đơm đặt man dại lại càng tăng âm lượng và dung lượng. Hình bóng những hồng huyết cầu của hắn, được khuyếch đại lên hàng triệu lần, bay lượn trên những bình nguyên mênh mông; và xa hơn nữa, những ngọn núi khổng lồ cao ngất và vững chắc đến không thể chịu nổi đang đúc kết lại, theo thuật ngữ của đá hoa cương và những cây linh sam rên rỉ, chân lý tối thượng về sự tồn tại của hắn.

II

Lúc họ trồi lên được khỏi tiếng sấm sét và bầu không khí hôi hám ở đường tàu điện ngầm, những dư tàn còn sót lại của ngày đang hòa lẫn với ánh đèn đường. Bà muốn mua ít cá cho bữa tối, nên bà đưa ông cái giỏ đựng những lọ mứt, bảo ông đi về nhà. Ông đang bước lên chiếu nghỉ thứ ba của cầu thang thì chợt nhớ ra là ông đã đưa bà cầm chùm chìa khóa của ông vào lúc đầu ngày.

Ông lặng lẽ ngồi trên những bậc thang và lặng lẽ nhỏm dậy khi khoảng chục phút sau bà về, nặng nề lê bước lên gác, cười thiểu não, lắc lắc đầu phê phán sự ngờ nghệch của mình. Họ bước vào căn hộ hai buồng của họ và ngay lập tức ông đi về phía chiếc gương. Vừa kéo hai khóe miệng mình banh ra bằng các ngón tay cái với vẻ mặt nhăn nhó như chiếc mặt nạ khủng khiếp, ông vừa tháo hàm răng giả mới tinh bất tiện đến tuyệt vọng và ngắt đứt những chiếc nanh nước dãi dài thượt nối kết ông với nó. Ông đọc tờ báo tiếng Nga trong lúc bà bày biện bàn ăn. Vẫn không ngừng đọc, ông nuốt những món ăn nhợt nhạt không cần đến răng. Bà hiểu tâm trạng ông và cũng lặng thinh. 

Khi ông đã đi nằm, bà vẫn còn ở lại trong phòng khách với bộ bài tây nhem nhuốc và những cuốn album cũ kĩ. Bên kia cái sân hẹp nơi mưa rơi lanh tanh trong bóng tối lên những thùng đựng tro méo mó, các cửa sổ ngời sáng dịu êm và qua một trong số chúng, có thể nhìn thấy một người đàn ông mặc quần đen với hai khuỷu tay để trần giơ lên cao đang nằm ngửa trên chiếc giường bừa bộn. Bà kéo rèm cửa xuống và ngắm nghía những tấm ảnh. Lúc còn bé, nhìn cậu có vẻ ngạc nhiên hơn phần lớn những đứa trẻ khác. Từ nếp gấp trong cuốn album, cô hầu người Đức họ từng thuê ở Leipzig và vị hôn phu mặt bệu của cô rơi ra ngoài. Minsk, Cách mạng, Leipzig, Berlin, Leipzig, mặt tiền một ngôi nhà xiêu vẹo mất nét tệ hại. Bốn tuổi, trong công viên: đăm chiêu, bẽn lẽn, với cái trán nhăn, đưa mắt ngó lơ con sóc háo hức, hệt như cậu vẫn lảng tránh bất cứ thứ gì khác lạ. Dì Rosa, một bà già nhặng xị, gầy giơ xương, mắt dài dại, sống trong một thế giới run rẩy rặt những tin xấu, nào phá sản, nào tai nạn tàu xe, nào sự bùng phát bệnh ung thư — cho đến khi bọn Đức lùa dì vào cõi chết, cùng lúc với tất cả những người mà dì vẫn lo lắng. Sáu tuổi — đó là khi cậu vẽ những con chim phi thường với đôi tay và đôi chân người phàm, và chịu đựng chứng mất ngủ như một gã đàn ông trưởng thành. Anh họ cậu, giờ là kỳ thủ nổi tiếng. Lại là cậu, khoảng tám tuổi, đã khó hiểu, sợ giấy dán tường hành lang, sợ một bức tranh nào đó trong cuốn sách đơn thuần cho người ta thấy phong cảnh đồng quê với những khối đá trên sườn đồi và chiếc bánh xe thồ cũ kĩ treo trên cành một cái cây trụi lá. Mười tuổi: năm họ rời khỏi châu  Âu. Nỗi hổ thẹn, lòng trắc ẩn, cảnh túng bấn nhục nhã, những đứa trẻ cá biệt, xấu xí, hư hỏng mà cậu phải học cùng tại cái trường đặc biệt ấy. Và rồi thời gian ấy trong đời cậu, đến cùng lúc với thời kỳ dưỡng bệnh kéo dài sau khi bị viêm phổi, lúc những ám ảnh bé bỏng ấy của cậu, những ám ảnh mà cha mẹ cậu cứ ngoan cố xem như tính lập dị của một đứa trẻ thiên tài phi thường, kết lại, có thể nói là, thành mớ bùng nhùng chặt cứng các ảo giác tương tác logic, làm cho cậu hoàn toàn không thể tiếp cận được tới lý tính thông thường.

Bà chấp nhận tất cả những chuyện này, và cả nhiều chuyện khác nữa — bởi lẽ, rốt cuộc thì, sống nghĩa là chấp nhận đánh mất hết niềm vui này đến niềm vui khác, thậm chí trong cảnh của bà thì đến niềm vui cũng chẳng có — mà chỉ là những triển vọng sáng sủa hơn thôi. Bà nghĩ về những đợt đau nhức liên miên do nguyên nhân nào chẳng rõ mà bà và chồng đang phải chịu đựng; về những quái vật khổng lồ vô hình vẫn hành hạ con trai bà theo những cách thức nào đó không thể tưởng tượng nổi; về sự mong manh nhiều không đếm xuể trên trái đất này; về định mệnh của những mong manh ấy, những thứ sẽ bị nghiền nát hoặc bị quăng đi, hoặc bị làm cho biến thành điên loạn; về những đứa trẻ bị bỏ rơi ư ử tự hát cho mình nghe ở những góc phố không ai quét dọn; về những cây cỏ dại tuyệt đẹp không giấu được mình khỏi bác nông dân và phải bất lực dõi theo bóng dáng gù như khỉ của bác bỏ lại những bông hoa xơ xác theo những bước chân, tựa như bóng tối hắc ám gớm guốc đang tiến đến gần. 

III

Đã quá nửa đêm khi, từ phòng khách, bà nghe thấy chồng mình rên rẩm; và ngay sau đó, ông loạng choạng bước vào, khoác ra ngoài bộ đồ ngủ của mình một cái áo choàng cũ cổ lông cừu non mà ông vẫn ưng hơn chiếc áo choàng tắm màu xanh lam rất đẹp. 

“Anh không thể nào ngủ được!” ông than vãn. 

“Sao vậy,” bà hỏi, “sao anh lại không ngủ được? Anh mệt thế cơ mà.”

“Anh không thể ngủ được vì anh đang hấp hối,” ông nói, và nằm xuống đi văng. 

“Có phải do dạ dày không? Anh có muốn em gọi cho bác sỹ Solov không?”

“Không cần bác sỹ đâu, không cần bác sỹ,” ông rên rẩm, “Quỷ tha ma bắt bọn bác sỹ đi! Ta phải nhanh chóng mang nó ra khỏi nơi đó. Nếu không thì ta sẽ phải chịu trách nhiệm… Phải chịu trách nhiệm!” ông nhắc lại và lật người qua tư thế ngồi, hai chân đặt trên sàn nhà, đấm bàn tay nắm chặt lên trán mình.

“Được rồi,” bà khe khẽ nói, “sáng mai ta sẽ đưa nó về nhà.”

“Anh muốn uống chút trà,” chồng bà nói và lánh mình vào phòng tắm.

Khó nhọc cúi người xuống, bà gom lại mấy lá bài và vài tấm ảnh bị tuột xuống sàn nhà — cây bồi cơ, cây chín pích, cây xì pích, cô hầu Elsa cùng với gã trai đỏm đáng dâm đãng của ả. 

Ông vừa quay lại với tâm trạng phấn khích, vừa nói lớn tiếng:

“Anh đã tính xong hết rồi. Ta sẽ nhường phòng ngủ cho nó. Mỗi người chúng ta sẽ qua một phần đêm bên cạnh nó và phần còn lại trên chiếc đi văng này. Thay phiên nhau. Ta sẽ nhờ bác sỹ thăm nom nó ít nhất là hai lần mỗi tuần. Kệ cho Hoàng Tử nói gì thì nói. Dẫu sao thì ông ấy cũng chẳng kêu ca gì đâu, bởi sẽ đỡ tốn tiền hơn.”

Điện thoại đổ chuông. Thường nó chẳng bao giờ đổ chuông vào giờ này. Chiếc dép lê chân trái của ông tuột đâu mất và ông mò mẫm tìm nó bằng gót và ngón chân trong lúc đứng ngay giữa phòng, và há cái miệng không răng về phía vợ một cách rất trẻ con. Do bà thạo tiếng Anh hơn ông, nên bà là người trả lời điện thoại.

“Có thể cho tôi nói chuyện với Charlie được không ạ,” Giọng nhỏ nhẹ buồn buồn của cô gái nào đó nói với bà. 

“Cô muốn gọi số nào thế? Không phải. Cô gọi nhầm số rồi.”

Bà nhẹ nhàng đặt ống nghe xuống và đặt tay lên trái tim già mệt mỏi. 

“Nó làm em sợ quá,” bà bảo.

Ông nở nụ cười mau lẹ và ngay lập tức lại tiếp tục bài độc thoại sôi nổi của mình. Họ sẽ đưa cậu về ngay khi ngày mới đến. Dao sẽ phải được cất vào ngăn kéo khóa kín. Thậm chí trong trạng thái tồi tệ nhất, thì cậu cũng sẽ không làm hại được người khác.

Điện thoại lại đổ chuông lần thứ hai. Vẫn giọng nói trẻ trung, bồn chồn, buồn bã ấy xin gặp Charlie. 

“Cô gọi nhầm số rồi. Tôi sẽ chỉ cho cô biết cô đang làm gì. Cô quay nhầm chữ O thay vì số không đấy.” 

Họ ngồi xuống thưởng thức bữa tiệc trà đột xuất giữa đêm của họ. Món quà sinh nhật nằm trên bàn. Ông sụp soạp nhắp; mặt ông đỏ bừng; thỉnh thoảng ông lại nâng tách trà lên lắc tròn, để cho đường tan ra kỹ hơn. Tĩnh mạch trên một bên cái đầu hói của ông, nơi có vết bớt lớn, nổi lên rõ mồn một và, mặc dù ông mới cạo sáng nay, những sợi râu bạc hiện ra trên cằm ông. Trong lúc bà rót cho ông tách trà khác, ông đeo kính lên khoan khoái ngắm nghía những chiếc lọ nhỏ tỏa ánh sáng vàng, lục và đỏ. Đôi môi ướt, vụng về của ông đánh vần các nhãn hiệu sặc sỡ của chúng — mơ, nho, mận biển, mộc qua. Đúng lúc ông cầm đến lọ táo dại thì điện thoại lại đổ chuông. 

Boston, 1948.

Bản dịch này đã được đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần số 31, ra ngày 15 tháng Tám năm 2014.


30 Jul 2014

Tay Trắng Bụng Nâu hay là Dịch Sau Quên Trước


Có một dạng lỗi, xuất hiện vô cùng nhiều trong bản dịch Lolita của cụ Dương Tường, mà tôi tạm gọi là lỗi Tay Trắng Bụng Nâu. Tại sao tôi gọi như vậy, xin xem ví dụ sau đây trích từ chương 29, phần II, Lolita:
Khi Humbert gặp Lolita, trong bản dịch của Dương Tường, nàng được mô tả như sau:





Lolita đang chửa to tướng, mặc áo dài nâu, đi dép lê, và Humbert tả màu da cánh tay của nàng như màu sữa pha loãng với nước, một chiêu dùng từ rất tuyệt của Nabokov, nhưng tất nhiên là khen Nabokov cũng như khen Trung Quốc đông dân mà thôi. Tuy nhiên ai lỡ không may đọc phải bản dịch Lolita của cụ Dương Tường, sẽ thấy ngay sau đó là:



Chắc có lẽ họ cũng chẳng đọc đâu, mua để chụp lên facebook khoe mà thôi, vì nếu người bình thường đọc, ắt sẽ há hốc mồm ra khi thấy nàng Lolita vừa mới có đôi tay trắng như sữa pha nước mà vài phút sau đã kịp có làn da bụng nâu nâu!

Nguyên bản tiếng Anh chỗ này là:

But, I said, she must be sensible, she must be a sensible girl (with her bare drum under that thin brown stuff), she must understand that if she expected the help I had come to give, I must have at least a clear comprehension of the situation.

Cái that thin brown stuff, mà cụ Dương Tường dịch trêu chúng cháu (chắc vậy) thành "lớp da mỏng nâu nâu), thật ra nó chính là cái áo nâu mà cụ vừa dịch cách đây chưa đầy một gang tay đấy ạ!

Dạng lỗi này vô cùng nhiều trong bản dịch Lolita của Dương Tường. Do Nabokov viết Lolita bằng một ngôn ngữ đa liên kết, nên các từ trong tác phẩm rất hay liên kết đến một chỗ nào đó ngay trước nó, ngay sau nó, hoặc trước nó rất xa, hoặc sau nó rất xa, hoặc xa đến nỗi ra ngoài Lolita và nằm ở một tác phẩm nào đó khác. Cụ thường xuyên không nhớ các từ đã dịch, và vì thế, cũng thường xuyên làm cho các từ dịch sau vênh hẳn với từ dịch trước.

Tuy nhiên, với tuổi tác của cụ Dương Tường thì lỗi dịch này là chấp nhận được. Nếu có ai đáng trách thì đúng là chỉ có độc giả của cụ mà thôi!

14 Jul 2014

Từ chuyện Lê Hoàng ngồi lên sách, đến lệch lạc tâm lý cần điều trị


Mặc dù cái gọi là giới trí thức Việt Nam đang bất đồng ý kiến đến mức cực đoan về tấm ảnh một đạo diễn và một cô hoa hậu ngồi lên những chiếc ghế được kê chân lên đống sách, nhưng thật ra vấn đề này đã được Marx nhắc đến trong bộ Tư Bản, và thậm chí ngày nay còn được coi là một trong những khái niệm trung tâm của chủ nghĩa Marx, đó chính là chứng bái vật giáo.


Hình ảnh Lê Hoàng - Triệu Thị Hà ngồi lên sách bị 'ném đá' trên mạng - Ảnh: T.L

Từ bái vật giáo hàng hóa

Thuật ngữ “bái vật” được dùng để chỉ hiện tượng mà một vật nào đó, đặc biệt là một vật do con người tạo ra, được người ta cho rằng có sức mạnh phi thường và có quyền lực mạnh hơn các vật khác. Về cơ bản, bái vật (fetishism) là việc gán cho một vật vô tri vô giác nào đó có giá trị hay có sức mạnh đặc biệt mang tính biểu tượng. Vật đó có thể là một bức tượng, một chiếc đồng hồ, một cái xe hơi, một ngôi nhà, hay thậm chí đơn giản là một cuốn sách.

Theo Marx, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, con người giao tiếp với nhau thông qua hàng hóa, hầu hết các mối quan hệ dựa trên sự trao đổi hàng hóa (bao gồm sức lao động và thời gian), và điều này đưa đến hậu quả tất yếu là con người đánh giá nhau qua hàng hóa, hàng hóa trở thành đại diện cho con người, và đến một lúc nào đó, con người sẽ tha hóa đến mức sùng bái hàng hóa, gán cho chúng những sức mạnh và giá trị tinh thần mà chúng hoàn toàn không sở hữu.

Có thể đáng tiếc, có thể không, nhưng cho đến ngày nay, quan điểm này của Marx vẫn hoàn toàn chính xác!

Cho đến sai lạc tình dục


Sigmund Freud (6 May 1856 – 23 September 1939) 

Ngoài ra, Sigmund Freud cũng sử dụng thuật ngữ "bái vật" để mô tả một hình thái sai lạc tình dục, khi đối tượng tình cảm là đồ vật vô tri giác hay bộ phận cụ thể nào đó trên cơ thể. Các nhà tâm lý hiện đại cho rằng chứng bái vật vừa bắt nguồn từ điều kiện môi trường hay hệ quả của những trải nghiệm gây cảm xúc mạnh để lại dấu vết trong não (tức các chấn thương tâm lý), nhưng cũng có thể do các yếu tố thể chất như cấu trúc não và di truyền. Chẳng hạn như một người từ bé đã thấy cảnh bố mẹ làm tình trên những cuốn sách, thì sau này, một cách vô thức, sẽ cảm nhận được khoái lạc khi nhìn thấy sách.

Bái vật trong tình dục là trạng thái phải được nhìn thấy, được sờ mó, hôn hít một vật nào đó thuộc nhiều loại khác nhau thì mới tạo được khoái cảm. Về cơ bản, bái vật là một sai lạc về đối tượng, lấy một bộ phận ra để thay thế cái toàn thể, ví dụ có nhiều nam giới bị kích thích tình dục với giày của phụ nữ. Vật càng gần cơ quan sinh dục nữ càng dễ gây kích thích, vì thế đồ lót của phụ nữ là thứ rất gây kích động cho nam giới. Như vậy, hình ảnh những cuốn sách bị phụ nữ ngồi lên sẽ có thể gây khoái cảm đặc biệt cho một số bệnh nhân nam giới, do chúng ở vị trí gần với các cơ quan sinh dục nữ nhất, như chúng ta đã thấy trong trường hợp nổi tiếng được nhắc đến ở đầu bài viết này.

Điều trị

Có nhiều liệu pháp đã từng được áp dụng để điều trị căn bệnh lệch lạc tâm lý này, ví dụ như liệu pháp tạo ra điều kiện để kinh sợ: cho người bệnh đối diện với vật được yêu thích và ngay khi họ phát sinh hứng khởi tình dục thì bị ngay một kích thích khó chịu hay đau đớn. Trước đây người ta đã dùng những kích thích đau đớn như choáng điện là điều kiện để gây kinh sợ. Giả dụ như chúng ta có thể cho người bệnh ngồi trước một màn hình có chạy nhiều hình ảnh khác nhau, mỗi khi có cuốn sách nào chạy qua thì ghế sẽ phát ra dòng điện đủ mạnh để bệnh nhân đau đớn, hoặc thậm chí tiết ra một số dung dịch bay hơi có mùi khó chịu để bệnh nhân cảm thấy kinh sợ.

Nhưng để chữa căn bệnh tận gốc, thì phải tìm cách cho bệnh nhân nhận thức được sự khác biệt giữa hàng hóa và con người nói riêng cũng như các giá trị tinh thần nói chung. Và mặc dù có lý thuyết cho rằng cấu trúc bộ não là căn nguyên của chứng bái vật giáo, nhưng điều đó chưa bao giờ được chứng minh. Và Marx vẫn đặt niềm tin vào một hình thái xã hội mà ở đó quan hệ giữa con người không chỉ còn là quan hệ hàng hóa.

Còn chúng ta, trong khi chờ đợi giấc mơ của Marx thành hiện thực, thì ít nhất cũng đừng để mình thành một bệnh nhân của ông bác sĩ thành Viên kia!

Nguồn:

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140712/tu-chuyen-le-hoang-ngoi-len-sach-den-lech-lac-tam-ly-can-dieu-tri.aspx

3 Jul 2014

Phê bình dịch thuật và song đề tù nhân


Thời gian gần đây luôn có những đợt sóng phê bình ào ạt vỗ vào ốc đảo nhỏ nhoi lởm chởm đá tai mèo và thấp thoáng những ngọn hải đăng cũ kỹ trong sương chiều của nền văn học dịch nước nhà. Cũng lạ là từ chỗ chỉ biết gục đầu thành kính đọc tất cả những gì được dịch ra tiếng Việt, độc giả lại quay ngoắt qua chê trách hầu như là tất cả các bản dịch, dù chúng được dịch từ những cây đa cây đề bấy lâu nay vẫn được tưới tắm cẩn thận và thường xuyên bởi những bài báo, giải thưởng, và lời khen (lẫn nhau) của người nhà.

Người thì bảo các thảm họa dịch thuật có nguyên nhân do biên tập quá ẩu, người thì phân trần do nhuận bút quá bèo làm cho dịch giả không thể dịch cho kỹ, người lại nói… từ trước đến nay văn học dịch vốn dĩ là loạn, sao lại ném đá chúng tôi, chỉ vì chúng tôi sinh ra phải cái thời mà bất cứ ai cũng có thể tra cứu tiếng Anh và có được bản gốc chỉ bằng vài cú bấm chuột hay là chạm đầu ngón tay?

Dương Tường, Lolita, Xin lỗi, Báo Tuổi Trẻ

Dương Tường buộc phải xin lỗi độc giả vì đã đạo chú thích Lolita 

Phê bình hay đập cho chết?

Đứng trên một góc độ nào đó, thì rõ ràng là phê bình dịch thuật đang ở trong một giai đoạn rất thiếu tính xây dựng đối với dịch giả. Hầu như các bài phê bình mang tính “đập chết ăn thịt”, tìm và thống kê hàng loạt lỗi dịch sai thô thiển đến mức không thể chấp nhận nổi, rồi kết luận là dịch giả quá kém. Tuy nhiên, những lỗi còn nguy hiểm hơn ví dụ như dịch sai hoàn toàn ý tác giả (mặc dù đúng từng từ trong từ điển) thì lại ít khi được đề cập đến.

Điều này làm cho dịch giả rất ấm ức, và luôn phân trần rằng ai cũng có thể dịch sai từ, những phê bình kiểu moi móc vài chục lỗi sai trong một bản dịch hàng chục hay hàng trăm ngàn từ là khá bất công với dịch giả. Thậm chí có dịch giả còn phản ứng quyết liệt bằng cách hỏi nhà phê bình xem, chẳng hạn, anh nói tôi dịch sai hàng ngàn từ, thì chứng cứ đâu?

Tuy nhiên, không một tờ báo tử tế nào sẽ chịu đăng một bài viết chỉ để liệt kê 3000 lỗi trong một cuốn sách nào đó. Và với những lỗi mang tính học thuật, tranh luận về các đoạn dịch sai ý tác giả mặc dù đúng đến từng chữ, sẽ tốn giấy tốn mực đến mức chúng chỉ có thể đăng trên các trang web cá nhân của nhà phê bình.

Chính điều đó đã dẫn đến tình trạng phải nói là phê bình dịch thuật theo kiểu quyết liệt triệt hạ cho bằng được như hiện nay trên báo chí VN. Những người phê bình không muốn mất thời gian vào chuyện tranh cãi triền miên về một quan điểm dịch với hàng ngàn bài viết xung quanh chỉ một từ duy nhất, điển hình là chỉ với một từ của nhà văn Tim O’Brien mà giới phê bình đã phải thư qua tin lại đến vài chục bài, tốn giấy tốn mực của hầu hết các tờ báo lớn nhỏ của VN, đủ thấy việc phê bình học thuật gian nan đến mức nào, và thái độ phản ứng đến cùng của dịch giả đã đưa đến một kiểu phê bình chỉ nhằm vào việc dịch sai từ. Anh không chịu nhận chỗ này anh dịch sai ý phải không, thế thì tôi sẽ chỉ cho anh hàng chục, hàng trăm chỗ anh dịch sai nghĩa nhé?

Dịch sai tiếng Anh quả thật là tệ, nhưng đáng tiếc đây chưa phải là lỗi nghiêm trọng nhất trong dịch thuật. Đương nhiên với các nhà văn lớn, như Tim O’Brien, Nabokov,… thì không nên và không thể dịch sai dù chỉ một từ, do họ đều suy ngẫm từng từ ngữ họ viết; nhưng một bản dịch vẫn có thể sai hoàn toàn mặc dù dịch sát đến từng chữ. Nhất là những bản dịch từ tiếng Anh – một thứ tiếng có những nghĩa thay đổi hoàn toàn theo ngữ cảnh của nó.

Thái độ đối đầu của dịch giả và giới phê bình đã làm cho họ không thể ngồi nói chuyện với nhau được về những cái quan trọng hơn trong văn chương. Rất khó, và thực tế là không thể bảo một cái đang tưởng nó là ngọn Hải Đăng, rằng nó cần phải đổi hướng đi.

Phê bình có dễ không?

Ở một đất nước duy tình hơn duy lý như VN chúng ta, nơi mà người ta vẫn bảo nhau rằng một bồ cái lí không bằng một tí cái tình, thì phê bình dịch thuật nói riêng và phê bình nói chung là một việc cần nhiều dũng cảm hơn là người ta tưởng.

Có trăm ngàn cách nói để người ta trách cứ một nhà phê bình: Nó còn quá ít tuổi, anh phê bình thế thì làm sao nó còn có nhiệt tình để dịch tiếp? Ông ấy đã quá già, sao anh có thể nói như thế với một người già? Cô bé đó viết như vậy là khá rồi, sao anh lại đòi hỏi quá nhiều ở một cô gái viết văn? Dịch giả đó đang gặp những chuyện buồn đấy, anh làm vậy ác quá! Tác phẩm đó rất là khó, dịch được như thế hoàn toàn không dễ, anh nên có tinh thần xây dựng hơn! Cái chuyện ấy thì dịch sao mà chẳng được, anh xét nét quá đáng! Đó là chưa kể một số người còn cho rằng phê bình một tác phẩm đôi khi chỉ giúp cho nó bán chạy hơn. Thậm chí nghi ngờ… nhà phê bình là tay trong của nhà sách!

Lolita và Song đề tù nhân

Một số khái niệm nổi tiếng trong Lý thuyết trò chơi là Đảm bảo phá hủy lẫn nhau (mutual assured destruction), Song đề tù nhân (prisoner's dilemma)

Thực ra hiện nay, đã là trí thức thì ai cũng có thể là dịch giả hoặc nhà phê bình dịch thuật. Hai vai trò đó không đối kháng lẫn nhau trong một cá nhân. Và nó gợi lại bài toán nổi tiếng có tên là Song Đề Tù Nhân trong lý thuyết trò chơi (game theory). Tóm lược như sau: Hai kẻ bị tình nghi là tội phạm bị cảnh sát bắt. Cảnh sát không có đủ chứng cớ để kết án họ, nên đã cách ly họ. Cảnh sát gặp từng người một và làm cùng thoả thuận: nếu một người thú tội mà người kia im lặng, người im lặng sẽ bị phạt 10 năm tù và người thú tội sẽ được thả tự do. Nếu cả hai đều im lặng, cảnh sát chỉ phạt được mỗi tù nhân 6 tháng tù vì một tội nhỏ nào đó khác. Nếu cả hai đều thú tội, mỗi người sẽ bị phạt 2 năm.

Về mặt lý thuyết thì cả hai nên giữ im lặng để cùng bị phạt ít nhất. Nhưng trong thực tế thì các thí nghiệm cho thấy đa phần người ta chọn giải pháp thú tội. Lý thuyết trò chơi đã có sự phát triển mạnh từ khi John von Neumann là người đầu tiên hình thức hóa nó trong thời kỳ trước và trong Chiến tranh Lạnh, chủ yếu do áp dụng của nó trong chiến lược quân sự, nổi tiếng nhất là khái niệm đảm bảo phá hủy lẫn nhau mà các siêu cường áp dụng để phát triển hệ thống vũ khí hạt nhân hủy diệt của họ. Những ý tưởng từ lý thuyết trò chơi cũng tìm được chỗ đứng trong việc xây dựng một thị trường cạnh tranh, khi các nhà cung cấp không thể bắt tay nhau để mưu lợi cho nhóm của mình.

Quay về vấn đề phê bình dịch thuật, có thể thấy giải pháp tốt nhất cho giới dịch giả là im lặng trước tất cả những sai sót của đồng nghiệp. Thực tế vừa qua đã cho thấy một nhà cựu-phê bình đã bị phê bình khốc liệt đến thế nào. Có lẽ anh cũng có đôi chút ăn năn về những lời ngày xưa mình đã viết về đồng nghiệp! Tuy nhiên điểm cân bằng mang tính lợi ích nhóm này rất mong manh và sẽ nhanh chóng bị phá vỡ. Thực tế thì cộng đồng không được lợi ích gì khi phải mua sản phẩm được “sản xuất” ra từ một nhóm “đoàn kết nhất trí cao” như thế.

Dù giới dịch giả có phản ứng đến thế nào, thì vai trò của các nhà phê bình là cực kỳ quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và đảm bảo quyền lợi cho khách hàng - ở đây là những độc giả mua sách dịch. Chúng ta cần ủng hộ các nhà phê bình cũng nhiều như ủng hộ các bản dịch chất lượng cao. Không thể chấp nhận thái độ của một số dịch giả coi việc dịch sách là một công việc cá nhân bất chấp độc giả, coi độc giả chỉ như những kẻ ăn “cơm mớm” từ miệng dịch giả. Hàng triệu độc giả không biết tiếng Anh và bỏ tiền ra để mua các “dịch phẩm”, sẽ nghĩ thế nào khi biết dịch giả coi thường họ như thế?

Phê bình như thế nào?

Như đã nói ở trên, báo chí không thể đóng vai trò có tính chuyên môn trong việc phê bình dịch thuật, báo chí chỉ có thể rung những hồi chuông cảnh báo về chất lượng của một bản dịch nói riêng, hay là một xu hướng dịch loạn nói chung; và để làm như vậy nó buộc phải dùng biện pháp nghiệp vụ đặc thù của mình là “đánh” vào những biểu tượng nhất định, hoặc vào những thứ mang tính biểu tượng.

Để việc phê bình dịch thuật thực sự mang lại hiệu quả, thì sau những bài báo sẽ phải là các nghiên cứu chuyên sâu hơn, thậm chí là những hội thảo chỉ nhằm vào việc phân tích một bản dịch. Các dịch giả cũng nên từ bỏ tâm thế coi tất cả những phê bình là nhằm vào cá nhân hay một công ty, một nhà sách nhất định. Nếu anh là một dịch giả lương thiện, yêu nghề, hãy đừng ngại lời phê bình, dù nó đúng hay sai, thì nó cũng là những cơ hội để anh hiểu được mình, hiểu được tác phẩm mình đã dịch. Và trên hết, chính những lời phê bình đó sẽ tạo ra một môi trường lành mạnh mà các tác phẩm dịch của anh mong muốn mang đến cho độc giả.

Nhà văn Nguyễn Tuân từng nói: “Khi tôi chết, nhớ chôn tôi cùng một thằng phê bình!” Cũng không hiểu cụ nói thế là quá ghét hay là quá yêu các nhà phê bình. Nhưng chắc chắn rằng sống hay chết, thì phê bình vẫn phải đồng hành với văn chương, dù đó chỉ là văn chương dịch.

Thiên Lương 


http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/120275/phe-binh-dich-thuat-va-song-de-tu-nhan.html

13 Jun 2014

Cái nút áo bằng kim cương giả





Những vật dụng nào sẽ được người đàn bà bỏ lại khi ra khỏi nhà sau một cuộc hôn nhân? Có người bỏ lại tất cả, trừ những đứa con. Có người gói ghém gọn gàng tất cả quần áo lót cho vào một cái bọc rồi vứt vào thùng rác. Còn nàng Valeria, vợ đầu của Humbert, đã vứt xuống bùn một cái nút áo:

Sự trống trải ngoài phố, không hé lộ chút gì về chuyến ra đi của vợ tôi ngoài một nút áo bằng kim cương giả mà ả vứt xuống bùn sau khi gìn giữ nó ba năm vô ích trong chiếc hộp vỡ, có lẽ đã cứu tôi khỏi cảnh máu me đầy mũi.

Nếu như khi chia tay, người đàn ông có thể ra đi với bộ quần áo trên người (và một cái thẻ ATM trong túi, chẳng hạn), và bước vào cơn mưa với cả một trời tự do trước mắt; thì đàn bà, dù có là Tây chăng nữa, cũng vướng víu đủ thứ đồ đạc cá nhân của mình, từ những mẩu son dùng dở, gói băng vệ sinh chưa đụng đến, cho đến những cái túi đắt tiền, và vô số quần áo thậm chí chưa cắt giá, đó là chưa kể những đứa con, những người bạn chung, những con đường nhỏ, những góc phố quen. Vậy nên sự ra đi của đàn bà lúc nào cũng bi tráng, cũng là dấu ấn không thể quên, dù là với ai. Khó có cảnh chia tay nào được mô tả hài hước mà vẫn đau đớn như Nabokov đã viết trong chương 8 này. Cái nút áo ấy là một chi tiết rất giàu hình ảnh và cũng là một sự tóm tắt không thể ngắn gọn hơn về thời gian chung sống giữa Valeria và Humbert. Ngoài chuyện làm bằng kim cương giả hàm chứa ẩn ý về một cuộc hôn nhân từ bản chất đã không thật (kim cương trong văn hóa châu Âu và Mỹ luôn đi liền với hôn nhân), nó còn là hình ảnh tượng trưng cho sự tạm bợ của mối quan hệ, và cũng là lời trách móc của Humbert với vợ. Một người đàn bà vô tâm đến mức không đơm lại được cái nút áo, mà quăng vào cái hộp vỡ, thì làm sao giữ được gia đình. Nó rất dễ bị bỏ qua, nhưng với ai đọc Lolita thật kỹ, thì nó cũng là một trong những hình ảnh tuyệt đẹp mà Nabokov khéo léo sắp đặt khắp mọi nơi trong cuốn tiểu thuyết, và, theo Nabokov, là:

... những điểm bí mật, những tọa độ trong tiềm thức mà dựa trên chúng cuốn sách này đã được đồ nên — mặc dù tôi nhận thức được rất rõ ràng rằng những cảnh này cảnh khác sẽ bị đọc lướt qua hoặc không để ý đến, hoặc thậm chí chẳng bao giờ được đụng đến, bởi những kẻ bắt đầu đọc cuốn sách dưới ấn tượng rằng nó là cái gì đó từa tựa như “Hồi ký của Cô gái điếm” hoặc “Les Amours de Milord Grosvit.”

Và, thưa độc giả, xin hãy đừng bỏ qua bất cứ một từ nào, bất cứ một chi tiết nào trong Lolita.