NABOKOV

Humbert và Lolita

Phim Lolita.

Lolita

Phim Lolita

Lolita

Phim Lolita

Nabokov

Life

Lolita và Humbert

Phim Lolita

20 Aug 2014

Dấu hiệu và Biểu hiệu

Vladimir Nabokov
Thiên Lương dịch



I

Đây là lần thứ tư sau cũng ngần ấy năm họ đối mặt với vấn đề: nên mang món quà sinh nhật nào cho chàng trai trẻ đang mắc căn bệnh loạn trí kinh niên. Cậu chẳng có ham muốn nào. Với cậu thì những vật thể do con người tạo ra hoặc là những tổ ong quái ác, bần bật rung cùng một thứ xung động hiểm độc mà cậu không thể nào đơn côi lĩnh hội được, hoặc là những thứ tiện nghi thô thiển mà cậu không biết sử dụng vào đâu trong thế giới trừu tượng của mình.  Sau khi bỏ qua vài vật phẩm có thể làm cậu khó chịu hoặc sợ hãi (chẳng hạn bất cứ thứ gì có thể dùng làm dụng cụ cũng bị cấm), bố mẹ cậu chọn món quà vặt vô hại và ngon lành: một giỏ đựng mười loại mứt trái cây khác nhau trong mười cái lọ nhỏ. 

Ngày cậu ra đời, họ đã cưới nhau được một thời gian khá lâu; hai chục năm trôi nhanh, và giờ thì họ đã già lắm rồi. Mái tóc màu nâu xám của bà đã điểm bạc và được sửa soạn qua quýt. Bà mặc bộ đồ đen rẻ tiền. Không giống những phụ nữ cùng tuổi (giả dụ như Bà Sol, hàng xóm nhà bên cạnh, người có gương mặt hồng và tím hoa cà do trang điểm, đội chiếc mũ là bó hoa ven suối), bà phơi gương mặt trắng bợt trần trụi trước ánh sáng nghiệt ngã của ngày xuân. Chồng bà, một doanh nhân từng khá thành đạt ở đất nước quê hương xưa kia, giờ đây phụ thuộc toàn bộ vào ông em trai Isaac, một người Mỹ thực thụ với gần bốn mươi năm định cư. Họ hiếm khi gặp ông ấy và đặt cho ông biệt hiệu “Hoàng tử.”

Thứ Sáu ấy, mọi chuyện không đâu vào đâu. Tàu điện ngầm bị mất điện nguồn giữa hai ga, và trong khoảng một phần tư giờ, người ta chẳng nghe được gì ngoài tiếng đập mẫn cán của trái tim mình cùng tiếng sột soạt của những tờ báo. Chiếc xe buýt họ phải đón để đi tiếp đã bắt họ đợi đến hàng thế kỷ; và khi nó đến, thì nó đã bị nhồi nhét đầy ngộn lũ học sinh trung học mồm mép tía lia. Trời mưa to khi họ bước theo con đường màu nâu dẫn đến bệnh viện tâm thần. Ở đó, họ lại phải chờ đợi; và thay vì cậu con trai lê chân vào phòng như cậu vẫn thường làm (gương mặt tội nghiệp của cậu lem luốc mụn trứng cá, nham nhở vết râu cạo ẩu, rầu rĩ, bối rối), một cô y tá họ quen mặt, và chẳng quan tâm đến, cuối cùng cũng xuất hiện và vui vẻ giải thích rằng cậu lại vừa cố tìm cách kết liễu đời mình. Cậu đã ổn, cô nói, nhưng chuyến thăm viếng này có thể quấy rầy cậu. Nơi đây thiếu nhân viên một cách khủng khiếp, còn đồ đạc rất dễ bị thất lạc hoặc lộn xộn hết cả, thành thử họ quyết định không để quà lại văn phòng mà mang nó đến cho cậu khi họ quay lại đây lần sau.

Bà chờ chồng mở cây dù rồi sau đó khoác tay ông. Ông không ngừng hắng giọng, theo cái kiểu âm vang đặc biệt như ông vẫn làm mỗi khi phiền muộn. Họ đến trạm chờ xe buýt bên kia phố và ông xếp dù lại. Vài bước gần đó, dưới cái cây ướt sũng đang đung đưa, một con chim nhỏ xíu chưa đủ lông đủ cánh, nửa sống nửa chết, đang bất lực co giật trong vũng nước.

Suốt quãng đường dài đến ga tàu điện ngầm, bà với chồng không trao đổi nửa lời; mỗi khi bà liếc nhìn đôi bàn tay già nua của ông (tĩnh mạch nổi phồng lên, làn da lốm đốm đồi mồi), đang nắm chặt và co giật trên cán chiếc dù, bà thấy nước mắt dâng lên và chỉ chực trào ra. Lúc bà nhìn quanh để cố thử nương tâm trí mình vào cái gì đó, thì bà bỗng hơi sốc, một cảm giác pha trộn giữa thương hại với ngạc nhiên, để ý thấy là một trong số khách đi tàu, một cô gái tóc đen có các móng chân đỏ bầm dơ dáy, đang khóc trên vai một phụ nữ lớn tuổi. Người phụ nữ này giống ai nhỉ? Bà ta giống Rebecca Borisovna, người có đứa con gái lấy một gã nhà Soloveichik — ở Minsk, nhiều năm trước đây.

Lần cuối cùng cậu cố gắng làm chuyện ấy, cách cậu thực hiện là, theo lời bác sỹ, một kiệt tác sáng tạo; lẽ ra cậu đã thành công, nếu như một gã bệnh nhân ganh ghét không nghĩ là cậu đang học bay — và ngăn cản cậu. Việc cậu thật sự muốn làm lại là khoét một lỗ trong thế giới của cậu và trốn thoát. 

Hệ hoang tưởng của cậu từng là chủ đề của nhiều bài nghiên cứu công phu trong nhiều nguyệt san khoa học, nhưng trước đó rất lâu, bà và chồng đã giải đoán được nó rồi. “Chứng hoang tưởng liên hệ,” Herman Brink đã gọi nó như vậy. Trong những ca rất hiếm gặp này thì bệnh nhân hình dung rằng tất tần tật mọi thứ xảy ra xung quanh hắn đều chứa đựng những ám chỉ úp úp mở mở tới cá nhân hắn cùng sự hiện hữu của hắn. Bệnh nhân loại trừ người thật ra khỏi âm mưu — do hắn tự coi mình là thông minh hơn rất nhiều so với những người khác. Thiên nhiên diệu kỳ bí mật theo dõi hắn dù hắn có đi bất cứ nơi đâu. Những đám mây trên bầu trời đăm đắm truyền cho nhau, bằng những dấu hiệu chậm rãi, các thông tin cặn kẽ đến mức không thể tin nổi về hắn. Lúc màn đêm buông xuống, lũ cây cối khoa chân múa tay đầy vẻ ám muội, theo những mẫu tự cử chỉ, luận bàn về những suy nghĩ thầm kín nhất của hắn. Sỏi đá hay vết bẩn hay đốm nắng tạo hình các mẫu hoa văn miêu tả theo cách thức khủng khiếp nào đó những thông điệp mà hắn buộc phải chặn được. Vạn vật là mật mã và hắn là chủ đề của vạn vật. Vài điệp viên là những kẻ theo dõi khách quan, ví dụ như các mặt kính và những vũng nước phẳng lặng; bọn khác, chẳng hạn những chiếc áo khoác trong khoang tủ kính bày hàng, là những chứng nhân đầy định kiến, những đao phủ máu lạnh; những kẻ khác nữa (nước chảy, bão giông) thì cuồng loạn đến mức điên dại, có quan điểm méo mó về hắn và hiểu nhầm một cách lố bịch về các hành vi của hắn. Hắn lúc nào cũng phải cảnh giác đề phòng và dâng hiến từng phút từng mẩu đời mình cho việc giải mã những gợn sóng của vạn vật. Chính thứ không khí hắn thở cũng được lập chỉ mục và lưu trữ lại. Phải chi những mối quan tâm được hắn khêu lên chỉ giới hạn trong vùng môi trường ngay xung quanh hắn thì cũng không sao — nhưng, than ôi, chuyện không phải như vậy! Càng xa cách, những luồng đơm đặt man dại lại càng tăng âm lượng và dung lượng. Hình bóng những hồng huyết cầu của hắn, được khuyếch đại lên hàng triệu lần, bay lượn trên những bình nguyên mênh mông; và xa hơn nữa, những ngọn núi khổng lồ cao ngất và vững chắc đến không thể chịu nổi đang đúc kết lại, theo thuật ngữ của đá hoa cương và những cây linh sam rên rỉ, chân lý tối thượng về sự tồn tại của hắn.

II

Lúc họ trồi lên được khỏi tiếng sấm sét và bầu không khí hôi hám ở đường tàu điện ngầm, những dư tàn còn sót lại của ngày đang hòa lẫn với ánh đèn đường. Bà muốn mua ít cá cho bữa tối, nên bà đưa ông cái giỏ đựng những lọ mứt, bảo ông đi về nhà. Ông đang bước lên chiếu nghỉ thứ ba của cầu thang thì chợt nhớ ra là ông đã đưa bà cầm chùm chìa khóa của ông vào lúc đầu ngày.

Ông lặng lẽ ngồi trên những bậc thang và lặng lẽ nhỏm dậy khi khoảng chục phút sau bà về, nặng nề lê bước lên gác, cười thiểu não, lắc lắc đầu phê phán sự ngờ nghệch của mình. Họ bước vào căn hộ hai buồng của họ và ngay lập tức ông đi về phía chiếc gương. Vừa kéo hai khóe miệng mình banh ra bằng các ngón tay cái với vẻ mặt nhăn nhó như chiếc mặt nạ khủng khiếp, ông vừa tháo hàm răng giả mới tinh bất tiện đến tuyệt vọng và ngắt đứt những chiếc nanh nước dãi dài thượt nối kết ông với nó. Ông đọc tờ báo tiếng Nga trong lúc bà bày biện bàn ăn. Vẫn không ngừng đọc, ông nuốt những món ăn nhợt nhạt không cần đến răng. Bà hiểu tâm trạng ông và cũng lặng thinh. 

Khi ông đã đi nằm, bà vẫn còn ở lại trong phòng khách với bộ bài tây nhem nhuốc và những cuốn album cũ kĩ. Bên kia cái sân hẹp nơi mưa rơi lanh tanh trong bóng tối lên những thùng đựng tro méo mó, các cửa sổ ngời sáng dịu êm và qua một trong số chúng, có thể nhìn thấy một người đàn ông mặc quần đen với hai khuỷu tay để trần giơ lên cao đang nằm ngửa trên chiếc giường bừa bộn. Bà kéo rèm cửa xuống và ngắm nghía những tấm ảnh. Lúc còn bé, nhìn cậu có vẻ ngạc nhiên hơn phần lớn những đứa trẻ khác. Từ nếp gấp trong cuốn album, cô hầu người Đức họ từng thuê ở Leipzig và vị hôn phu mặt bệu của cô rơi ra ngoài. Minsk, Cách mạng, Leipzig, Berlin, Leipzig, mặt tiền một ngôi nhà xiêu vẹo mất nét tệ hại. Bốn tuổi, trong công viên: đăm chiêu, bẽn lẽn, với cái trán nhăn, đưa mắt ngó lơ con sóc háo hức, hệt như cậu vẫn lảng tránh bất cứ thứ gì khác lạ. Dì Rosa, một bà già nhặng xị, gầy giơ xương, mắt dài dại, sống trong một thế giới run rẩy rặt những tin xấu, nào phá sản, nào tai nạn tàu xe, nào sự bùng phát bệnh ung thư — cho đến khi bọn Đức lùa dì vào cõi chết, cùng lúc với tất cả những người mà dì vẫn lo lắng. Sáu tuổi — đó là khi cậu vẽ những con chim phi thường với đôi tay và đôi chân người phàm, và chịu đựng chứng mất ngủ như một gã đàn ông trưởng thành. Anh họ cậu, giờ là kỳ thủ nổi tiếng. Lại là cậu, khoảng tám tuổi, đã khó hiểu, sợ giấy dán tường hành lang, sợ một bức tranh nào đó trong cuốn sách đơn thuần cho người ta thấy phong cảnh đồng quê với những khối đá trên sườn đồi và chiếc bánh xe thồ cũ kĩ treo trên cành một cái cây trụi lá. Mười tuổi: năm họ rời khỏi châu  Âu. Nỗi hổ thẹn, lòng trắc ẩn, cảnh túng bấn nhục nhã, những đứa trẻ cá biệt, xấu xí, hư hỏng mà cậu phải học cùng tại cái trường đặc biệt ấy. Và rồi thời gian ấy trong đời cậu, đến cùng lúc với thời kỳ dưỡng bệnh kéo dài sau khi bị viêm phổi, lúc những ám ảnh bé bỏng ấy của cậu, những ám ảnh mà cha mẹ cậu cứ ngoan cố xem như tính lập dị của một đứa trẻ thiên tài phi thường, kết lại, có thể nói là, thành mớ bùng nhùng chặt cứng các ảo giác tương tác logic, làm cho cậu hoàn toàn không thể tiếp cận được tới lý tính thông thường.

Bà chấp nhận tất cả những chuyện này, và cả nhiều chuyện khác nữa — bởi lẽ, rốt cuộc thì, sống nghĩa là chấp nhận đánh mất hết niềm vui này đến niềm vui khác, thậm chí trong cảnh của bà thì đến niềm vui cũng chẳng có — mà chỉ là những triển vọng sáng sủa hơn thôi. Bà nghĩ về những đợt đau nhức liên miên do nguyên nhân nào chẳng rõ mà bà và chồng đang phải chịu đựng; về những quái vật khổng lồ vô hình vẫn hành hạ con trai bà theo những cách thức nào đó không thể tưởng tượng nổi; về sự mong manh nhiều không đếm xuể trên trái đất này; về định mệnh của những mong manh ấy, những thứ sẽ bị nghiền nát hoặc bị quăng đi, hoặc bị làm cho biến thành điên loạn; về những đứa trẻ bị bỏ rơi ư ử tự hát cho mình nghe ở những góc phố không ai quét dọn; về những cây cỏ dại tuyệt đẹp không giấu được mình khỏi bác nông dân và phải bất lực dõi theo bóng dáng gù như khỉ của bác bỏ lại những bông hoa xơ xác theo những bước chân, tựa như bóng tối hắc ám gớm guốc đang tiến đến gần. 

III

Đã quá nửa đêm khi, từ phòng khách, bà nghe thấy chồng mình rên rẩm; và ngay sau đó, ông loạng choạng bước vào, khoác ra ngoài bộ đồ ngủ của mình một cái áo choàng cũ cổ lông cừu non mà ông vẫn ưng hơn chiếc áo choàng tắm màu xanh lam rất đẹp. 

“Anh không thể nào ngủ được!” ông than vãn. 

“Sao vậy,” bà hỏi, “sao anh lại không ngủ được? Anh mệt thế cơ mà.”

“Anh không thể ngủ được vì anh đang hấp hối,” ông nói, và nằm xuống đi văng. 

“Có phải do dạ dày không? Anh có muốn em gọi cho bác sỹ Solov không?”

“Không cần bác sỹ đâu, không cần bác sỹ,” ông rên rẩm, “Quỷ tha ma bắt bọn bác sỹ đi! Ta phải nhanh chóng mang nó ra khỏi nơi đó. Nếu không thì ta sẽ phải chịu trách nhiệm… Phải chịu trách nhiệm!” ông nhắc lại và lật người qua tư thế ngồi, hai chân đặt trên sàn nhà, đấm bàn tay nắm chặt lên trán mình.

“Được rồi,” bà khe khẽ nói, “sáng mai ta sẽ đưa nó về nhà.”

“Anh muốn uống chút trà,” chồng bà nói và lánh mình vào phòng tắm.

Khó nhọc cúi người xuống, bà gom lại mấy lá bài và vài tấm ảnh bị tuột xuống sàn nhà — cây bồi cơ, cây chín pích, cây xì pích, cô hầu Elsa cùng với gã trai đỏm đáng dâm đãng của ả. 

Ông vừa quay lại với tâm trạng phấn khích, vừa nói lớn tiếng:

“Anh đã tính xong hết rồi. Ta sẽ nhường phòng ngủ cho nó. Mỗi người chúng ta sẽ qua một phần đêm bên cạnh nó và phần còn lại trên chiếc đi văng này. Thay phiên nhau. Ta sẽ nhờ bác sỹ thăm nom nó ít nhất là hai lần mỗi tuần. Kệ cho Hoàng Tử nói gì thì nói. Dẫu sao thì ông ấy cũng chẳng kêu ca gì đâu, bởi sẽ đỡ tốn tiền hơn.”

Điện thoại đổ chuông. Thường nó chẳng bao giờ đổ chuông vào giờ này. Chiếc dép lê chân trái của ông tuột đâu mất và ông mò mẫm tìm nó bằng gót và ngón chân trong lúc đứng ngay giữa phòng, và há cái miệng không răng về phía vợ một cách rất trẻ con. Do bà thạo tiếng Anh hơn ông, nên bà là người trả lời điện thoại.

“Có thể cho tôi nói chuyện với Charlie được không ạ,” Giọng nhỏ nhẹ buồn buồn của cô gái nào đó nói với bà. 

“Cô muốn gọi số nào thế? Không phải. Cô gọi nhầm số rồi.”

Bà nhẹ nhàng đặt ống nghe xuống và đặt tay lên trái tim già mệt mỏi. 

“Nó làm em sợ quá,” bà bảo.

Ông nở nụ cười mau lẹ và ngay lập tức lại tiếp tục bài độc thoại sôi nổi của mình. Họ sẽ đưa cậu về ngay khi ngày mới đến. Dao sẽ phải được cất vào ngăn kéo khóa kín. Thậm chí trong trạng thái tồi tệ nhất, thì cậu cũng sẽ không làm hại được người khác.

Điện thoại lại đổ chuông lần thứ hai. Vẫn giọng nói trẻ trung, bồn chồn, buồn bã ấy xin gặp Charlie. 

“Cô gọi nhầm số rồi. Tôi sẽ chỉ cho cô biết cô đang làm gì. Cô quay nhầm chữ O thay vì số không đấy.” 

Họ ngồi xuống thưởng thức bữa tiệc trà đột xuất giữa đêm của họ. Món quà sinh nhật nằm trên bàn. Ông sụp soạp nhắp; mặt ông đỏ bừng; thỉnh thoảng ông lại nâng tách trà lên lắc tròn, để cho đường tan ra kỹ hơn. Tĩnh mạch trên một bên cái đầu hói của ông, nơi có vết bớt lớn, nổi lên rõ mồn một và, mặc dù ông mới cạo sáng nay, những sợi râu bạc hiện ra trên cằm ông. Trong lúc bà rót cho ông tách trà khác, ông đeo kính lên khoan khoái ngắm nghía những chiếc lọ nhỏ tỏa ánh sáng vàng, lục và đỏ. Đôi môi ướt, vụng về của ông đánh vần các nhãn hiệu sặc sỡ của chúng — mơ, nho, mận biển, mộc qua. Đúng lúc ông cầm đến lọ táo dại thì điện thoại lại đổ chuông. 

Boston, 1948.

Bản dịch này đã được đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần số 31, ra ngày 15 tháng Tám năm 2014.


30 Jul 2014

Tay Trắng Bụng Nâu hay là Dịch Sau Quên Trước


Có một dạng lỗi, xuất hiện vô cùng nhiều trong bản dịch Lolita của cụ Dương Tường, mà tôi tạm gọi là lỗi Tay Trắng Bụng Nâu. Tại sao tôi gọi như vậy, xin xem ví dụ sau đây trích từ chương 29, phần II, Lolita:
Khi Humbert gặp Lolita, trong bản dịch của Dương Tường, nàng được mô tả như sau:





Lolita đang chửa to tướng, mặc áo dài nâu, đi dép lê, và Humbert tả màu da cánh tay của nàng như màu sữa pha loãng với nước, một chiêu dùng từ rất tuyệt của Nabokov, nhưng tất nhiên là khen Nabokov cũng như khen Trung Quốc đông dân mà thôi. Tuy nhiên ai lỡ không may đọc phải bản dịch Lolita của cụ Dương Tường, sẽ thấy ngay sau đó là:



Chắc có lẽ họ cũng chẳng đọc đâu, mua để chụp lên facebook khoe mà thôi, vì nếu người bình thường đọc, ắt sẽ há hốc mồm ra khi thấy nàng Lolita vừa mới có đôi tay trắng như sữa pha nước mà vài phút sau đã kịp có làn da bụng nâu nâu!

Nguyên bản tiếng Anh chỗ này là:

But, I said, she must be sensible, she must be a sensible girl (with her bare drum under that thin brown stuff), she must understand that if she expected the help I had come to give, I must have at least a clear comprehension of the situation.

Cái that thin brown stuff, mà cụ Dương Tường dịch trêu chúng cháu (chắc vậy) thành "lớp da mỏng nâu nâu), thật ra nó chính là cái áo nâu mà cụ vừa dịch cách đây chưa đầy một gang tay đấy ạ!

Dạng lỗi này vô cùng nhiều trong bản dịch Lolita của Dương Tường. Do Nabokov viết Lolita bằng một ngôn ngữ đa liên kết, nên các từ trong tác phẩm rất hay liên kết đến một chỗ nào đó ngay trước nó, ngay sau nó, hoặc trước nó rất xa, hoặc sau nó rất xa, hoặc xa đến nỗi ra ngoài Lolita và nằm ở một tác phẩm nào đó khác. Cụ thường xuyên không nhớ các từ đã dịch, và vì thế, cũng thường xuyên làm cho các từ dịch sau vênh hẳn với từ dịch trước.

Tuy nhiên, với tuổi tác của cụ Dương Tường thì lỗi dịch này là chấp nhận được. Nếu có ai đáng trách thì đúng là chỉ có độc giả của cụ mà thôi!

14 Jul 2014

Từ chuyện Lê Hoàng ngồi lên sách, đến lệch lạc tâm lý cần điều trị


Mặc dù cái gọi là giới trí thức Việt Nam đang bất đồng ý kiến đến mức cực đoan về tấm ảnh một đạo diễn và một cô hoa hậu ngồi lên những chiếc ghế được kê chân lên đống sách, nhưng thật ra vấn đề này đã được Marx nhắc đến trong bộ Tư Bản, và thậm chí ngày nay còn được coi là một trong những khái niệm trung tâm của chủ nghĩa Marx, đó chính là chứng bái vật giáo.


Hình ảnh Lê Hoàng - Triệu Thị Hà ngồi lên sách bị 'ném đá' trên mạng - Ảnh: T.L

Từ bái vật giáo hàng hóa

Thuật ngữ “bái vật” được dùng để chỉ hiện tượng mà một vật nào đó, đặc biệt là một vật do con người tạo ra, được người ta cho rằng có sức mạnh phi thường và có quyền lực mạnh hơn các vật khác. Về cơ bản, bái vật (fetishism) là việc gán cho một vật vô tri vô giác nào đó có giá trị hay có sức mạnh đặc biệt mang tính biểu tượng. Vật đó có thể là một bức tượng, một chiếc đồng hồ, một cái xe hơi, một ngôi nhà, hay thậm chí đơn giản là một cuốn sách.

Theo Marx, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, con người giao tiếp với nhau thông qua hàng hóa, hầu hết các mối quan hệ dựa trên sự trao đổi hàng hóa (bao gồm sức lao động và thời gian), và điều này đưa đến hậu quả tất yếu là con người đánh giá nhau qua hàng hóa, hàng hóa trở thành đại diện cho con người, và đến một lúc nào đó, con người sẽ tha hóa đến mức sùng bái hàng hóa, gán cho chúng những sức mạnh và giá trị tinh thần mà chúng hoàn toàn không sở hữu.

Có thể đáng tiếc, có thể không, nhưng cho đến ngày nay, quan điểm này của Marx vẫn hoàn toàn chính xác!

Cho đến sai lạc tình dục


Sigmund Freud (6 May 1856 – 23 September 1939) 

Ngoài ra, Sigmund Freud cũng sử dụng thuật ngữ "bái vật" để mô tả một hình thái sai lạc tình dục, khi đối tượng tình cảm là đồ vật vô tri giác hay bộ phận cụ thể nào đó trên cơ thể. Các nhà tâm lý hiện đại cho rằng chứng bái vật vừa bắt nguồn từ điều kiện môi trường hay hệ quả của những trải nghiệm gây cảm xúc mạnh để lại dấu vết trong não (tức các chấn thương tâm lý), nhưng cũng có thể do các yếu tố thể chất như cấu trúc não và di truyền. Chẳng hạn như một người từ bé đã thấy cảnh bố mẹ làm tình trên những cuốn sách, thì sau này, một cách vô thức, sẽ cảm nhận được khoái lạc khi nhìn thấy sách.

Bái vật trong tình dục là trạng thái phải được nhìn thấy, được sờ mó, hôn hít một vật nào đó thuộc nhiều loại khác nhau thì mới tạo được khoái cảm. Về cơ bản, bái vật là một sai lạc về đối tượng, lấy một bộ phận ra để thay thế cái toàn thể, ví dụ có nhiều nam giới bị kích thích tình dục với giày của phụ nữ. Vật càng gần cơ quan sinh dục nữ càng dễ gây kích thích, vì thế đồ lót của phụ nữ là thứ rất gây kích động cho nam giới. Như vậy, hình ảnh những cuốn sách bị phụ nữ ngồi lên sẽ có thể gây khoái cảm đặc biệt cho một số bệnh nhân nam giới, do chúng ở vị trí gần với các cơ quan sinh dục nữ nhất, như chúng ta đã thấy trong trường hợp nổi tiếng được nhắc đến ở đầu bài viết này.

Điều trị

Có nhiều liệu pháp đã từng được áp dụng để điều trị căn bệnh lệch lạc tâm lý này, ví dụ như liệu pháp tạo ra điều kiện để kinh sợ: cho người bệnh đối diện với vật được yêu thích và ngay khi họ phát sinh hứng khởi tình dục thì bị ngay một kích thích khó chịu hay đau đớn. Trước đây người ta đã dùng những kích thích đau đớn như choáng điện là điều kiện để gây kinh sợ. Giả dụ như chúng ta có thể cho người bệnh ngồi trước một màn hình có chạy nhiều hình ảnh khác nhau, mỗi khi có cuốn sách nào chạy qua thì ghế sẽ phát ra dòng điện đủ mạnh để bệnh nhân đau đớn, hoặc thậm chí tiết ra một số dung dịch bay hơi có mùi khó chịu để bệnh nhân cảm thấy kinh sợ.

Nhưng để chữa căn bệnh tận gốc, thì phải tìm cách cho bệnh nhân nhận thức được sự khác biệt giữa hàng hóa và con người nói riêng cũng như các giá trị tinh thần nói chung. Và mặc dù có lý thuyết cho rằng cấu trúc bộ não là căn nguyên của chứng bái vật giáo, nhưng điều đó chưa bao giờ được chứng minh. Và Marx vẫn đặt niềm tin vào một hình thái xã hội mà ở đó quan hệ giữa con người không chỉ còn là quan hệ hàng hóa.

Còn chúng ta, trong khi chờ đợi giấc mơ của Marx thành hiện thực, thì ít nhất cũng đừng để mình thành một bệnh nhân của ông bác sĩ thành Viên kia!

Nguồn:

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140712/tu-chuyen-le-hoang-ngoi-len-sach-den-lech-lac-tam-ly-can-dieu-tri.aspx

3 Jul 2014

Phê bình dịch thuật và song đề tù nhân


Thời gian gần đây luôn có những đợt sóng phê bình ào ạt vỗ vào ốc đảo nhỏ nhoi lởm chởm đá tai mèo và thấp thoáng những ngọn hải đăng cũ kỹ trong sương chiều của nền văn học dịch nước nhà. Cũng lạ là từ chỗ chỉ biết gục đầu thành kính đọc tất cả những gì được dịch ra tiếng Việt, độc giả lại quay ngoắt qua chê trách hầu như là tất cả các bản dịch, dù chúng được dịch từ những cây đa cây đề bấy lâu nay vẫn được tưới tắm cẩn thận và thường xuyên bởi những bài báo, giải thưởng, và lời khen (lẫn nhau) của người nhà.

Người thì bảo các thảm họa dịch thuật có nguyên nhân do biên tập quá ẩu, người thì phân trần do nhuận bút quá bèo làm cho dịch giả không thể dịch cho kỹ, người lại nói… từ trước đến nay văn học dịch vốn dĩ là loạn, sao lại ném đá chúng tôi, chỉ vì chúng tôi sinh ra phải cái thời mà bất cứ ai cũng có thể tra cứu tiếng Anh và có được bản gốc chỉ bằng vài cú bấm chuột hay là chạm đầu ngón tay?

Dương Tường, Lolita, Xin lỗi, Báo Tuổi Trẻ

Dương Tường buộc phải xin lỗi độc giả vì đã đạo chú thích Lolita 

Phê bình hay đập cho chết?

Đứng trên một góc độ nào đó, thì rõ ràng là phê bình dịch thuật đang ở trong một giai đoạn rất thiếu tính xây dựng đối với dịch giả. Hầu như các bài phê bình mang tính “đập chết ăn thịt”, tìm và thống kê hàng loạt lỗi dịch sai thô thiển đến mức không thể chấp nhận nổi, rồi kết luận là dịch giả quá kém. Tuy nhiên, những lỗi còn nguy hiểm hơn ví dụ như dịch sai hoàn toàn ý tác giả (mặc dù đúng từng từ trong từ điển) thì lại ít khi được đề cập đến.

Điều này làm cho dịch giả rất ấm ức, và luôn phân trần rằng ai cũng có thể dịch sai từ, những phê bình kiểu moi móc vài chục lỗi sai trong một bản dịch hàng chục hay hàng trăm ngàn từ là khá bất công với dịch giả. Thậm chí có dịch giả còn phản ứng quyết liệt bằng cách hỏi nhà phê bình xem, chẳng hạn, anh nói tôi dịch sai hàng ngàn từ, thì chứng cứ đâu?

Tuy nhiên, không một tờ báo tử tế nào sẽ chịu đăng một bài viết chỉ để liệt kê 3000 lỗi trong một cuốn sách nào đó. Và với những lỗi mang tính học thuật, tranh luận về các đoạn dịch sai ý tác giả mặc dù đúng đến từng chữ, sẽ tốn giấy tốn mực đến mức chúng chỉ có thể đăng trên các trang web cá nhân của nhà phê bình.

Chính điều đó đã dẫn đến tình trạng phải nói là phê bình dịch thuật theo kiểu quyết liệt triệt hạ cho bằng được như hiện nay trên báo chí VN. Những người phê bình không muốn mất thời gian vào chuyện tranh cãi triền miên về một quan điểm dịch với hàng ngàn bài viết xung quanh chỉ một từ duy nhất, điển hình là chỉ với một từ của nhà văn Tim O’Brien mà giới phê bình đã phải thư qua tin lại đến vài chục bài, tốn giấy tốn mực của hầu hết các tờ báo lớn nhỏ của VN, đủ thấy việc phê bình học thuật gian nan đến mức nào, và thái độ phản ứng đến cùng của dịch giả đã đưa đến một kiểu phê bình chỉ nhằm vào việc dịch sai từ. Anh không chịu nhận chỗ này anh dịch sai ý phải không, thế thì tôi sẽ chỉ cho anh hàng chục, hàng trăm chỗ anh dịch sai nghĩa nhé?

Dịch sai tiếng Anh quả thật là tệ, nhưng đáng tiếc đây chưa phải là lỗi nghiêm trọng nhất trong dịch thuật. Đương nhiên với các nhà văn lớn, như Tim O’Brien, Nabokov,… thì không nên và không thể dịch sai dù chỉ một từ, do họ đều suy ngẫm từng từ ngữ họ viết; nhưng một bản dịch vẫn có thể sai hoàn toàn mặc dù dịch sát đến từng chữ. Nhất là những bản dịch từ tiếng Anh – một thứ tiếng có những nghĩa thay đổi hoàn toàn theo ngữ cảnh của nó.

Thái độ đối đầu của dịch giả và giới phê bình đã làm cho họ không thể ngồi nói chuyện với nhau được về những cái quan trọng hơn trong văn chương. Rất khó, và thực tế là không thể bảo một cái đang tưởng nó là ngọn Hải Đăng, rằng nó cần phải đổi hướng đi.

Phê bình có dễ không?

Ở một đất nước duy tình hơn duy lý như VN chúng ta, nơi mà người ta vẫn bảo nhau rằng một bồ cái lí không bằng một tí cái tình, thì phê bình dịch thuật nói riêng và phê bình nói chung là một việc cần nhiều dũng cảm hơn là người ta tưởng.

Có trăm ngàn cách nói để người ta trách cứ một nhà phê bình: Nó còn quá ít tuổi, anh phê bình thế thì làm sao nó còn có nhiệt tình để dịch tiếp? Ông ấy đã quá già, sao anh có thể nói như thế với một người già? Cô bé đó viết như vậy là khá rồi, sao anh lại đòi hỏi quá nhiều ở một cô gái viết văn? Dịch giả đó đang gặp những chuyện buồn đấy, anh làm vậy ác quá! Tác phẩm đó rất là khó, dịch được như thế hoàn toàn không dễ, anh nên có tinh thần xây dựng hơn! Cái chuyện ấy thì dịch sao mà chẳng được, anh xét nét quá đáng! Đó là chưa kể một số người còn cho rằng phê bình một tác phẩm đôi khi chỉ giúp cho nó bán chạy hơn. Thậm chí nghi ngờ… nhà phê bình là tay trong của nhà sách!

Lolita và Song đề tù nhân

Một số khái niệm nổi tiếng trong Lý thuyết trò chơi là Đảm bảo phá hủy lẫn nhau (mutual assured destruction), Song đề tù nhân (prisoner's dilemma)

Thực ra hiện nay, đã là trí thức thì ai cũng có thể là dịch giả hoặc nhà phê bình dịch thuật. Hai vai trò đó không đối kháng lẫn nhau trong một cá nhân. Và nó gợi lại bài toán nổi tiếng có tên là Song Đề Tù Nhân trong lý thuyết trò chơi (game theory). Tóm lược như sau: Hai kẻ bị tình nghi là tội phạm bị cảnh sát bắt. Cảnh sát không có đủ chứng cớ để kết án họ, nên đã cách ly họ. Cảnh sát gặp từng người một và làm cùng thoả thuận: nếu một người thú tội mà người kia im lặng, người im lặng sẽ bị phạt 10 năm tù và người thú tội sẽ được thả tự do. Nếu cả hai đều im lặng, cảnh sát chỉ phạt được mỗi tù nhân 6 tháng tù vì một tội nhỏ nào đó khác. Nếu cả hai đều thú tội, mỗi người sẽ bị phạt 2 năm.

Về mặt lý thuyết thì cả hai nên giữ im lặng để cùng bị phạt ít nhất. Nhưng trong thực tế thì các thí nghiệm cho thấy đa phần người ta chọn giải pháp thú tội. Lý thuyết trò chơi đã có sự phát triển mạnh từ khi John von Neumann là người đầu tiên hình thức hóa nó trong thời kỳ trước và trong Chiến tranh Lạnh, chủ yếu do áp dụng của nó trong chiến lược quân sự, nổi tiếng nhất là khái niệm đảm bảo phá hủy lẫn nhau mà các siêu cường áp dụng để phát triển hệ thống vũ khí hạt nhân hủy diệt của họ. Những ý tưởng từ lý thuyết trò chơi cũng tìm được chỗ đứng trong việc xây dựng một thị trường cạnh tranh, khi các nhà cung cấp không thể bắt tay nhau để mưu lợi cho nhóm của mình.

Quay về vấn đề phê bình dịch thuật, có thể thấy giải pháp tốt nhất cho giới dịch giả là im lặng trước tất cả những sai sót của đồng nghiệp. Thực tế vừa qua đã cho thấy một nhà cựu-phê bình đã bị phê bình khốc liệt đến thế nào. Có lẽ anh cũng có đôi chút ăn năn về những lời ngày xưa mình đã viết về đồng nghiệp! Tuy nhiên điểm cân bằng mang tính lợi ích nhóm này rất mong manh và sẽ nhanh chóng bị phá vỡ. Thực tế thì cộng đồng không được lợi ích gì khi phải mua sản phẩm được “sản xuất” ra từ một nhóm “đoàn kết nhất trí cao” như thế.

Dù giới dịch giả có phản ứng đến thế nào, thì vai trò của các nhà phê bình là cực kỳ quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và đảm bảo quyền lợi cho khách hàng - ở đây là những độc giả mua sách dịch. Chúng ta cần ủng hộ các nhà phê bình cũng nhiều như ủng hộ các bản dịch chất lượng cao. Không thể chấp nhận thái độ của một số dịch giả coi việc dịch sách là một công việc cá nhân bất chấp độc giả, coi độc giả chỉ như những kẻ ăn “cơm mớm” từ miệng dịch giả. Hàng triệu độc giả không biết tiếng Anh và bỏ tiền ra để mua các “dịch phẩm”, sẽ nghĩ thế nào khi biết dịch giả coi thường họ như thế?

Phê bình như thế nào?

Như đã nói ở trên, báo chí không thể đóng vai trò có tính chuyên môn trong việc phê bình dịch thuật, báo chí chỉ có thể rung những hồi chuông cảnh báo về chất lượng của một bản dịch nói riêng, hay là một xu hướng dịch loạn nói chung; và để làm như vậy nó buộc phải dùng biện pháp nghiệp vụ đặc thù của mình là “đánh” vào những biểu tượng nhất định, hoặc vào những thứ mang tính biểu tượng.

Để việc phê bình dịch thuật thực sự mang lại hiệu quả, thì sau những bài báo sẽ phải là các nghiên cứu chuyên sâu hơn, thậm chí là những hội thảo chỉ nhằm vào việc phân tích một bản dịch. Các dịch giả cũng nên từ bỏ tâm thế coi tất cả những phê bình là nhằm vào cá nhân hay một công ty, một nhà sách nhất định. Nếu anh là một dịch giả lương thiện, yêu nghề, hãy đừng ngại lời phê bình, dù nó đúng hay sai, thì nó cũng là những cơ hội để anh hiểu được mình, hiểu được tác phẩm mình đã dịch. Và trên hết, chính những lời phê bình đó sẽ tạo ra một môi trường lành mạnh mà các tác phẩm dịch của anh mong muốn mang đến cho độc giả.

Nhà văn Nguyễn Tuân từng nói: “Khi tôi chết, nhớ chôn tôi cùng một thằng phê bình!” Cũng không hiểu cụ nói thế là quá ghét hay là quá yêu các nhà phê bình. Nhưng chắc chắn rằng sống hay chết, thì phê bình vẫn phải đồng hành với văn chương, dù đó chỉ là văn chương dịch.

Thiên Lương 


http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/120275/phe-binh-dich-thuat-va-song-de-tu-nhan.html

13 Jun 2014

Cái nút áo bằng kim cương giả





Những vật dụng nào sẽ được người đàn bà bỏ lại khi ra khỏi nhà sau một cuộc hôn nhân? Có người bỏ lại tất cả, trừ những đứa con. Có người gói ghém gọn gàng tất cả quần áo lót cho vào một cái bọc rồi vứt vào thùng rác. Còn nàng Valeria, vợ đầu của Humbert, đã vứt xuống bùn một cái nút áo:

Sự trống trải ngoài phố, không hé lộ chút gì về chuyến ra đi của vợ tôi ngoài một nút áo bằng kim cương giả mà ả vứt xuống bùn sau khi gìn giữ nó ba năm vô ích trong chiếc hộp vỡ, có lẽ đã cứu tôi khỏi cảnh máu me đầy mũi.

Nếu như khi chia tay, người đàn ông có thể ra đi với bộ quần áo trên người (và một cái thẻ ATM trong túi, chẳng hạn), và bước vào cơn mưa với cả một trời tự do trước mắt; thì đàn bà, dù có là Tây chăng nữa, cũng vướng víu đủ thứ đồ đạc cá nhân của mình, từ những mẩu son dùng dở, gói băng vệ sinh chưa đụng đến, cho đến những cái túi đắt tiền, và vô số quần áo thậm chí chưa cắt giá, đó là chưa kể những đứa con, những người bạn chung, những con đường nhỏ, những góc phố quen. Vậy nên sự ra đi của đàn bà lúc nào cũng bi tráng, cũng là dấu ấn không thể quên, dù là với ai. Khó có cảnh chia tay nào được mô tả hài hước mà vẫn đau đớn như Nabokov đã viết trong chương 8 này. Cái nút áo ấy là một chi tiết rất giàu hình ảnh và cũng là một sự tóm tắt không thể ngắn gọn hơn về thời gian chung sống giữa Valeria và Humbert. Ngoài chuyện làm bằng kim cương giả hàm chứa ẩn ý về một cuộc hôn nhân từ bản chất đã không thật (kim cương trong văn hóa châu Âu và Mỹ luôn đi liền với hôn nhân), nó còn là hình ảnh tượng trưng cho sự tạm bợ của mối quan hệ, và cũng là lời trách móc của Humbert với vợ. Một người đàn bà vô tâm đến mức không đơm lại được cái nút áo, mà quăng vào cái hộp vỡ, thì làm sao giữ được gia đình. Nó rất dễ bị bỏ qua, nhưng với ai đọc Lolita thật kỹ, thì nó cũng là một trong những hình ảnh tuyệt đẹp mà Nabokov khéo léo sắp đặt khắp mọi nơi trong cuốn tiểu thuyết, và, theo Nabokov, là:

... những điểm bí mật, những tọa độ trong tiềm thức mà dựa trên chúng cuốn sách này đã được đồ nên — mặc dù tôi nhận thức được rất rõ ràng rằng những cảnh này cảnh khác sẽ bị đọc lướt qua hoặc không để ý đến, hoặc thậm chí chẳng bao giờ được đụng đến, bởi những kẻ bắt đầu đọc cuốn sách dưới ấn tượng rằng nó là cái gì đó từa tựa như “Hồi ký của Cô gái điếm” hoặc “Les Amours de Milord Grosvit.”

Và, thưa độc giả, xin hãy đừng bỏ qua bất cứ một từ nào, bất cứ một chi tiết nào trong Lolita.

25 May 2014

Nước xuất Mã của Lolita


Lolita nổi tiếng là một tác phẩm khó đọc và cực kỳ khó dịch, đến mức có thể nói rằng không có một dòng nào trong cuốn sách này không làm độc giả phải ngẫm nghĩ về dụng ý của tác giả cùng những liên tưởng ngầm định đến những nơi khác, cả nằm trong và nằm rất ngoài khuôn khổ cuốn sách. Tuy nhiên, vẫn có những chỗ đặc biệt khó hiểu, và theo kinh nghiệm của tôi thì chúng thường nằm ở đầu và cuối các chương. Nabokov rất thích dùng hình ảnh để minh họa cho dòng suy tưởng của mình, và cái khó khi đọc Lolita là các hình ảnh ấy không dễ hiểu với độc giả bình thường, do chúng thuộc về các lĩnh vực rất đa dạng mà không phải ai cũng am tường. 

Câu văn cuối chương 9 phần II Lolita có thể là một ví dụ tốt cho điều tôi viết trên đây: 

Một trong những ô vuông mắt cáo của cái cửa sổ nhỏ hai cánh giăng đầy mạng nhện tại chỗ ngoặt cầu thang được lắp kính màu ngọc đỏ, vết thương tươi rói này nằm giữa những hình chữ nhật không nhuộm màu và vị trí bất đối xứng của nó — một nước xuất Mã từ trên đỉnh, luôn làm tôi bất an lạ lùng.

Ngữ cảnh liên quan: Lolita lúc này đã có quan hệ với Quilty, nhưng Humbert vẫn chưa nghi ngờ gì. Một ngày nọ, Lo gọi điện nói sẽ về muộn và nhờ Humbert tiếp cô bạn Mona mà nàng hẹn đến nhà tập kịch. Mona và Humbert nói chuyện với nhau, và Humbert có cảm giác Mona đang tìm cách gạ gẫm mình, đúng lúc đó thì Lolita về nhà. Và Humbert để cho hai bạn gái ở lại với nhau, bước lên cầu thang. 

Để diễn tả tâm trạng bối rối của Humbert, Nabokov đã để cho ông ta mô tả ô cửa sổ mà ông ta đang nhìn thấy trên chỗ ngoặt cầu thang như một bàn cờ cách điệu, với một ô kính màu ngọc đỏ như vết thương tươi rói gợi hình ảnh một nước xuất Mã từ trên đỉnh. Nếu ai không chơi cờ Vua có lẽ sẽ thấy câu văn này khó hiểu, nhưng ai biết chơi môn cờ này sẽ hiểu cảm giác của Humbert. Trong cờ Vua, bàn cờ được chia thành 64 ô vuông khác màu, và quân Mã di chuyển khó lường nhất, theo một hình chữ nhật cạnh là 3x2 ô vuông, rất nhiều đòn phối hợp nguy hiểm và tuyệt đẹp trong cờ Vua có sự tham gia của quân Mã nhờ sự biến hóa trong nước đi của nó. Ngoài ra, trong cờ Vua, người chơi luôn tư duy theo chiều hướng quân đối thủ ở phía trên, phía bên kia bàn cờ, nên câu văn một nước xuất Mã từ trên đỉnhcòn gợi ý đến một nước ra quân Mã của đối phương, một nước đưa quân cờ tráo trở và khó lường nhất của họ vào cuộc chơi. Đó có lẽ cũng là tâm trạng của Humbert sau cuộc gặp với Mona. Phải chăng Lolita đã chớm có dấu hiệu phản bội, đã có những bước đi tráo trở đầu tiên trong cuộc tình giữa hai người? Ý nghĩ đó đâm vào lòng Humbert và để lại vết thương còn tươi rói. 

Thực ra, thế giới bên ngoài chỉ là hình ảnh phản chiếu những gì nằm trong chính nội tâm của người quan sát, thậm chí theo những người theo quan điểm duy tâm chủ quan cực đoan thì thế giới bên ngoài không tồn tại khách quan; và chỉ có chủ thể có ý thức là hiện thực không nghi ngờ gì, còn lại tất cả chỉ tồn tại trong ý thức của chủ thể đó mà thôi. Cách viết của Nabokov trong Lolita luôn bám theo quan điểm ấy, nên nhiều đoạn văn ngắn trong Lolita, mặc dù nhìn có vẻ không liên quan đến tác phẩm, nhưng nếu người dịch không hiểu nhân vật và không có đủ kiến thức về hình ảnh mà Nabokov sử dụng, thì sẽ dịch sai hoàn toàn. Có thể đoạn dịch sai ấy không làm độc giả hiểu sai về tác phẩm, nhưng sẽ tầm thường hóa nó, biến nó thành một câu chuyện rẻ tiền về một mối quan hệ ấu dâm mà thôi. 

19 May 2014

Tôi Yêu Cô



Pushkin

Thiên Lương dịch

Tôi yêu cô: và, dường như, tình yêu ấy
Trong lòng tôi chưa hẳn đã nguôi ngoai
Nhưng hãy để nó đừng làm cô bận lòng thêm nữa
Tôi chẳng muốn cô buồn hay khắc khoải chờ mong
Tôi yêu cô âm thầm, vô vọng
Lúc rụt rè khi dào dạt hờn ghen
Tôi yêu cô, yêu chân tình đắm đuối
Xin Chúa cho người ta yêu cô như tôi đã từng yêu

BẢN GỐC:

Я вас любил

Александр Сергеевич Пушкин (1799—1837)

Я вас любил: любовь еще, быть может,
В душе моей угасла не совсем;
Но пусть она вас больше не тревожит;
Я не хочу печалить вас ничем.
Я вас любил безмолвно, безнадежно,
То робостью, то ревностью томим;
Я вас любил так искренно, так нежно,
Как дай вам бог любимой быть другим.

1829