NABOKOV

Humbert và Lolita

Phim Lolita.

Lolita

Phim Lolita

Lolita

Phim Lolita

Nabokov

Life

Lolita và Humbert

Phim Lolita

29 July 2013

White-lined time

She would wait and relax for a bar or two of white-lined time before going into the act of serving, and often bounced the ball once or twice, or pawed the ground a little, always at ease, always rather vague about the score, always cheerful as she so seldom was in the dark life she led at home. Her tennis was the highest point to which I can imagine a young creature bringing the art of make-believe, although I daresay, for her it was the very geometry of basic reality.

Trích chương 20, phần II, Lolita.




26 July 2013

Nhịp Và Phách

NHỊP

Khi nghe một bản nhạc hay một bài hát, ta thường thấy cách một khoảng thời gian đều nhau nào đó có một tiếng đệm mạnh (hay một tiếng trống đệm theo). Khoảng thời gian đều nhau giữa tiếng mạnh trước với tiếng mạnh sau gọi là nhịp.

Để phân biệt nhịp nọ với nhịp kia người ta dùng một vạch thẳng đứng trên khuông nhạc gọi là vạch nhịp. Trong tiếng Anh, nhịp còn được gọi là Bar, có lẽ do hình dạng của chúng.

Số chỉ nhịp ghi đầu bản nhạc, sau khoá nhạc và chỉ ghi một lần ở khuông nhạc đầu tiên (trừ trường hợp có sự thay đổi nhịp)

Số chỉ nhịp trông giống như một phân số:

-Số ở trên biểu thị số phách có trong mỗi ô nhịp.
-Số ở dưới biểu thị độ dài của mỗi phách là bao nhiêu (tương ứng với hình nốt nào)



- Khoảng cách giữa 2 vạch nhịp gọi là ô nhịp hoặc nhịp trường canh.
- Khi kết thúc 1 đoạn nhạc hay thay đổi khoá nhạc, thay đổi nhịp, người ta dùng 2 vạch nhịp, gọi là vạch kép.


- Chấm dứt bài nhạc người ta dùng vạch kết thúc bao gồm 1 vạch bình thường và 1 vạch đậm hơn ở phía ngoài.


PHÁCH

Trong mỗi nhịp (ô nhịp hay nhịp trường canh) lại chia ra nhiều quãng thời gian đều nhau nhỏ hơn gọi là phách.
Mỗi nhịp đều có phách mạnh, phách nhẹ. Phách mạnh bao giờ cũng nằm ở đầu ô nhịp. Nhờ có phách mạnh, phách nhẹ ta mới phân biệt được các loại nhịp khác nhau.

Số lượng phách trong mỗi ô nhịp tuỳ thuộc vào số chỉ nhịp.


Phách có thể chia ra làm nhiều phần nhỏ hơn một nốt nhạc hoặc có thể có nhiều phách trong một hình nốt nhạc.

Ví dụ:

Một ô nhịp thông thường thì số lượng phách được qui định bởi số chỉ nhịp (không được ít hơn hoặc nhiều hơn)

Nhịp 2/4: mỗi nhịp (ô nhịp) có 2 phách ứng với 2 hình nốt đen;
Nhịp 3/4: mỗi nhịp (ô nhịp) có 3 phách ứng với 3 hình nốt đen;
Nhịp 4/4: mỗi nhịp (ô nhịp) có 4 phách ứng với 4 hình nốt đen;
Nhịp 6/8: mỗi nhịp (ô nhịp) có 6 phách ứng với 6 hình nốt móc đơn;
...
Tuy nhiên có khi ở ô nhịp đầu, do chủ ý của tác giả, bản nhạc được bắt đầu từ một phách yếu, ô nhịp đó không đủ số phách theo qui định. Ô nhịp đó gọi là nhịp lấy đà.



Nguồn: Sưu Tầm


25 July 2013

Squid-Cloud


Bộ Mực ống (tên khoa học: Teuthida) là một nhóm động vật biển thuộc siêu bộ Mười chân (Decapodiformes) của lớp Chân đầu (Cephalopoda). Mực ống có phần thân và phần đầu rõ ràng. Thân cân xứng hai phía, có da và có 8 tay và một cặp xúc tu. Mực ống có chứa hợp chất mực màu đen trong cơ thể, khi gặp nguy hiểm, mực phun ra tạo màn đen dày đặc, qua đó lẩn trốn khỏi nguy cơ đe dọa.


Lolita Mực Ống
Mực Ống

Lolita Mực Ống
Mực Ống

In my chess sessions with Gaston I saw the board as a square pool of limpid water with rare shells and stratagems rosily visible upon the smooth tessellated bottom, which to my confused adversary was all ooze and squid-cloud.

Chương 20, Phần II, Lolita.


15 July 2013

Tudor Sedan






Mẫu xe Tudor Sedan từng thịnh hành ở Mỹ những năm giữa thế kỷ 20; và được nhắc đến trong một đoạn văn ở chương 19, phần II, Lolita:

The necessity of being constantly on the lookout for his little moustache and open shirt—or for his baldish pate and broad shoulders—led me to a profound study of all cars on the road—behind, before, alongside, coming, going, every vehicle under the dancing sun: the quiet vacationist’s automobile with the box of Tender-Touch tissues in the back window; the recklessly speeding jalopy full of pale children with a shaggy dog’s head protruding, and a crumpled mudguard; the bachelor’s tudor sedan crowded with suits on hangers; the huge fat house trailer weaving in front, immune to the Indian file of fury boiling behind it; the car with the young female passenger politely perched in the middle of the front seat to be closer to the young male driver; the car carrying on its roof a red boat bottom up … The gray car slowing up before us, the gray car catching up with us.


10 July 2013

Những Ánh Nến Trong Tầng Hầm Lolita


Nhà văn Murakami có nói: "“Đối với các nhà văn hay nhạc sĩ, nếu họ thực sự muốn sáng tạo một tác phẩm nào đó, họ cần phải đi xuống cầu thang và tìm một lối đi vào tầng hầm. Điều mà tôi muốn làm là đi xuống hầm, nhưng vẫn tỉnh táo.” Khám phá tầng hầm của tư duy con người là việc không mấy đơn giản, vì thế các tác phẩm văn học lớn không bao giờ dễ đọc với độc giả nào không có tâm thế tiếp nhận nó. Và với Lolita của Nabokov thì tầng hầm tâm hồn của nhân vật chính lại còn tối tăm gấp bội, vì nhân vật ấy không chỉ là một tên sát nhân, một kẻ ấu dâm, mà còn là một người điên. Tuy nhiên, Nabokov không để người đọc (và dịch giả) phải mò mẫm một mình trong thế giới riêng của Humbert, ông vẫn kín đáo để đâu đó những ngọn nến mờ mờ ảo ảo đủ để soi rọi bước chân của người khám phá.

Những ngọn nến ấy được Nabokov để khắp nơi trong Lolita nhưng chúng không dễ thấy với những ai chỉ muốn mau chóng tìm lối ra chứ không muốn ngắm nghía từng ngóc ngách trong mê cung tâm hồn Humbert. Và những ngọn nến ấy là một trong những yếu tố tạo ra vẻ đẹp kỳ ảo trong Lolita. Để giữ được chúng còn cháy sáng cho độc giả của mình, thì dịch giả buộc phải hiểu, vì Nabokov là một bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh; những ngọn nến của ông cũng chính là những cái bẫy ngôn từ, mà dịch giả rất dễ bị chúng thôi miên và không còn tỉnh táo nữa.



Thật đáng tiếc, nhưng khi chuyển ngữ tác phẩm này qua tiếng Việt, cụ Dương Tường đã dập tắt rất nhiều nếu như không nói là gần hết các ngọn nến ấy, các chỉ dẫn kín đáo ấy cho độc giả, khiến cho bản dịch Lolita của cụ, không hơn không kém, chỉ là một đường cống ngầm tối om dưới lâu đài tuyệt mỹ của nguyên bản. Một số ví dụ nằm trong chỉ một trang của Lolita, ở ngữ cảnh Humbert vừa cãi nhau do ghen tuông và nghi ngờ Lolita phản bội, cô bé đạp xe chạy ra khỏi nhà, trong đêm mưa, và Humbert chạy bộ đuổi theo; nguyên bản tiếng Anh:

Half a mile or so east of number fourteen, Thayer Street tangles with a private lane and a cross street; the latter leads to the town proper; in front of the first drugstore, I saw—with what melody of relief!—Lolita’s fair bicycle waiting for her. I pushed instead of pulling, pulled, pushed, pulled, and entered. Look out! Some ten paces away Lolita, through the glass of a telephone booth (membranous god still with us), cupping the tube, confidentially hunched over it, slit her eyes at me, turned away with her treasure, hurriedly hung up, and walked out with a flourish.

“Tried to reach you at home,” she said brightly. “A great decision has been made. But first buy me a drink, dad.” She watched the listless pale fountain girl put in the ice, pour in the coke, add the cherry syrup—and my heart was bursting with love-ache. That childish wrist.

My lovely child. You have a lovely child, Mr. Humbert. We always admire her as she passes by. Mr. Pim watched Pippa suck in the concoction.

Trong đoạn văn này có hai từ đáng lưu ý là fair trong "fair bicycle" và concoction trong "Mr. Pim watched Pippa suck in the concoction." Tuy đơn giản nhưng chúng đều là những từ đa nghĩa trong tiếng Anh. Ngoài nhiều lỗi dịch sai be bét tiếng Anh như "private lane" dịch thành "đất riêng", "town proper" thì dịch linh ta linh tinh thành "dẫn hẳn vào thành phố", cụ Dương Tường còn dịch hai chỗ hết sức quan trọng là "fair bicycle" thành chiếc xe đạp đẹp! và bỏ qua không dịch "concoction", đổi cả cụm từ "suck in concoction" thành: "uống ừng ực"! Hết sức là tào lao!

Tuy nhiên "fair bicycle" và "concoction" là hai trong vô số "ngọn nến" rọi sáng tư duy của Humbert trong Lolita. Nabokov mô tả cho chúng ta thấy dòng tư duy của Humbert: trong khi đang chạy, ghen tuông và nghi ngờ Lolita, đuổi theo cô bé nhân tình của mình, bối rối (tangles) vì không biết nàng đang ở đâu, thì ông thấy chiếc xe đạp của nàng dựng ven đường, và ông cảm thấy nó thật là "fair" (ngay thẳng, thẳng thắn, không gian lận); vì nó chỉ cho ông thấy nơi Lolita đang đứng, nó là hình ảnh đối nghịch với sự gian trá của Lolita. Sau đó, tuy Lolita đã cười đùa làm lành với ông, nhưng trong lòng Humbert vẫn không hết hoài nghi, nên ông mới nhìn thấy Lolita uống ly nước coke pha xi rô của nàng như "Mr. Pim watched Pippa suck in the concoction." Một lần nữa thủ pháp ngọn nến được Nabokov dùng rất tuyệt diệu bằng cách sử dụng cụm từ "suck in the concoction". Ở đây, concoction ngoài nghĩa là một món đồ uống pha trộn, còn có nghĩa khác cũng hay dùng trong tiếng Anh là "an untruth; lie". Nhà văn khéo léo dùng các từ đa nghĩa để gợi mở cho độc giả hiểu rằng tuy đã làm lành với Lolita, nhưng trong tâm trí Humbert đã mơ hồ gợn lên những nghi ngờ về sự phản bội của nàng.

Những từ này dịch sai hay bỏ qua không dịch thì có "chết thằng Tây" nào không? Có lẽ sẽ có độc giả nào đó lẩm bẩm như thế, vâng, quả thật, nó chẳng làm chết ai cả, và người ta dù có đọc phải bản dịch của cụ Dương Tường vẫn hiểu là ông Humbert đưa Lolita đi chơi rồi nàng phản bội ông đi với Quilty và cuối cùng là cả ba đều chết, một cuốn tiểu thuyết đậm chất gì nhỉ, ngôn tình. Nhưng nếu chỉ như thế thôi, thì việc gì phải đọc Lolita cho khổ, và nếu chỉ như thế, thì nó đã chẳng bao giờ được đánh giá rất cao trong văn chương nhân loại.

3 July 2013

The Aztec Red Convertible



1953 Cadillac Series 62 Convertible


1954 Aztec Red Cadillac Series 62 - 2 Door Convertible





Trích chương 18, Phần II, Lolita:

The reader must now forget Chestnuts and Colts, and accompany us further west. The following days were marked by a number of great thunderstorms—or perhaps, there was but one single storm which progressed across country in ponderous frogleaps and which we could not shake off just as we could not shake off detective Trapp: for it was during those days that the problem of the Aztec Red Convertible presented itself to me, and quite overshadowed the theme of Lo’s lovers.


2 July 2013

O lente currite noctis equi!










O lente currite noctis equi! O softly run, nightmares! We climbed long grades and rolled downhill again, and heeded speed limits, and spared slow children, and reproduced in sweeping terms the black wiggles of curves on their yellow shields, and no matter how and where we drove, the enchanted interspace slid on intact, mathematical, mirage-like, the viatic counterpart of a magic carpet. And all the time I was aware of a private blaze on my right: her joyful eye, her flaming cheek.

Tạm dịch:

O lente currite noctis equi! Ôi cơn ác mộng, hãy chạy nhẹ nhàng thôi! Chúng tôi leo lên những con dốc dài rồi lại lăn xuống dưới đồi, chú ý đến những chỉ dẫn hạn chế tốc độ, tha cho lũ trẻ chậm chạp, phác những đường lượn mô phỏng các nét ngoằn ngoèo màu đen trên những tấm biển màu vàng báo trước chỗ quanh co, và chẳng quan trọng chúng tôi lái thế nào và lái đi đâu, khoảng trống bị bỏ bùa vẫn lướt trên phiên bản đường nhựa, nguyên vẹn, chính xác, như ảo ảnh, của tấm thảm thần. Và lúc nào tôi cũng nhận thấy ngọn lửa riêng tư phía bên phải tôi: con mắt hoan hỉ của nàng, gò má bừng bừng của nàng.