NABOKOV

Humbert và Lolita

Phim Lolita.

Lolita

Phim Lolita

Lolita

Phim Lolita

Nabokov

Life

Lolita và Humbert

Phim Lolita

30 October 2012

Poison Ring

Lolita: Poison Ring 01

Lolita: Poison Ring 02


Lolita: Poison Ring 03
Một chiếc nhẫn đầu độc với mặt đá mã não



27 October 2012

Poster Bed


Lolita: Poster Bed.01


Lolita: Poster Bed 02\


Lolita: Poster Bed


22 October 2012

Seraglio

Vài hình ảnh hậu cung (Seraglio). 

Lolita: Seraglio - Hậu cung
Pool In A Harem
 Jean-Leon Gerome (1824-1904)
1876

Lolita: Seraglio - Hậu cung
Bath
 Jean-Leon Gerome (1824-1904)
1881


Lolita. Bản dịch. Seraglio.


12 October 2012

Incubus


The Nightmare
Henry Fuseli (1741–1825) 
1781, 101,6 × 127 cm
Oil on canvas
Institute of Fine Arts, Detroit

Incubus (Dâm quỷ) - con quỷ làm tình với phụ nữ đang ngủ, được nhắc đến trong chương 17 Lolita. Đoạn văn dưới đây của chương này có một chỗ chơi chữ khó dịch:

[...]I saw myself administering a powerful sleeping potion to both mother and daughter so as to fondle the latter through the night with perfect impunity. The house was full of Charlotte’s snore, while Lolita hardly breathed in her sleep, as still as a painted girl-child. “Mother, I swear Kenny never even touched me.” “You either lie, Dolores Haze, or it was an incubus.” No, I would not go that far.

So Humbert the Cubus schemed and dreamed—and the red sun of desire and decision (the two things that create a live world) rose higher and higher, while upon a succession of balconies a succession of libertines, sparkling glass in hand, toasted the bliss of past and future nights.[...]

Từ Cubus không có trong tiếng Anh, đó là một từ (như rất nhiều từ khác trong Lolita) do Nabokov tự sáng tạo ra từ danh từ Incubus. Hiểu nghĩa đen thì Cubus là "không phải dâm quỷ"; Humbert the Cubus là Humbert không phải dâm quỷ!

Để giữ được phần nào cách chơi chữ và văn phong châm biếm của Nabokov trong Lolita, tôi tạm dịch: Humbert the CubusHumbert Tâm Quỷ.



Lolita. Incubus. Chương 17.

8 October 2012

Bồ Công Anh (Dandelion)


Lolita: Bồ Công Anh

Bồ công anh là loại cây nhỏ, thường cao 0,6-1 m, đôi khi cao tới 3 m, thân mọc thẳng, nhẵn, không cành hoặc rất ít cành. Lá cây có nhiều hình dạng: lá phía dưới dài 30 cm, rộng 5-6 cm, gần như không có cuống, chia thành nhiều thùy hay răng cưa to, thô; lá trên ngắn hơn, không chia thùy, mép có răng cưa thưa.

Hoa Bồ công anh màu vàng rực (như mặt trời), nhưng khi hoa thành hạt, thì nó có màu trắng tinh (như mặt trăng). Trong chương 17 Lolita, có một đoạn văn tả về Bồ công anh rất lãng mạn, như thế này:

Most of the dandelions had changed from suns to moons.

Lolita: Bồ Công Anh
Hoa Bồ công anh

Lolita: Bồ Công Anh
Hạt Bồ công anh

Lolita: Bồ Công Anh
Đồng hoa Bồ công anh



6 October 2012

Catullus


Gaius Valerius Catullus (sinh năm 84 trước CN – chết năm 54 trước CN) là nhà thơ La Mã cổ đại trong thế kỉ thứ nhất trước CN. Cho đến nay, các tác phẩm của ông vẫn rất nổi tiếng. Tuy nhiên, chưa ai có số liệu chính xác về ngày sinh và ngày mất của nhà thơ. 

Catullus sinh ở Verona, miền bắc Ý. Cha Catallus là người rất giàu có, có quan hệ thân thiết với Julius Caesar. Khi còn trẻ, Catullus lên Rome và tham gia nhóm các nhà thơ mới (neoteroi) và trở thành nhà thơ xuất sắc nhất của nhóm này. Di sản thơ ca mà Catullus để lại còn đến ngày nay gồm 116 bài thơ dài ngắn khác nhau (từ 2 câu đến 480 câu). Nổi tiếng nhất là 25 bài thơ tình viết về người đẹp Lesbia. Tên thật của Lesbia là Clodia Metelli. Theo truyền thuyết thì Lesbia là một phụ nữ đã có gia đình, xinh đẹp và đỏng đảnh, coi nhà thơ trẻ tuổi và tài năng Catullus là một người tình, nhưng Catullus thì khổ sở vì mối tình này. Trong các bài thơ của mình, Catullus miêu tả lại các giai đoạn khác nhau trong mối quan hệ giữa hai người: thuở ban đầu hân hoan, ngờ vực, chia tay, cảm giác đau đớn khổ sở khi mất nhau. Không rõ lý do tại sao họ chia tay nhau, nhưng những bài thơ của Catullus về mối quan hệ này đã thể hiện sự minh triết sâu sắc của ông. Một số bài thơ của Catullus cũng ghi lại, trực tiếp hoặc gián tiếp, mối quan hệ đồng tính luyến ái của ông với một thanh niên tên là Juventius.

Năm 56 trước CN, anh trai Catullus mất, ông viết một số bài thơ về sự kiện này. Khoảng năm 56-57 trước CN, Catullus tham gia cuộc hành trình đến Bithynia, vùng Tiểu Á trong đoàn tùy tùng của Gaius Memmius - thống đốc La Mã cai trị vùng lãnh thổ này. Catullus hy vọng nhiều vào chuyến đi này nhưng kết quả không được như mong muốn. Sự thất vọng này được thể hiện trong một số bài thơ viết về Memmius. Một năm sau, Catullus quay trở lại Roma, viết nhiều bài thơ về cuộc sống xã hội đương thời. Catullus mất ở Roma năm 30 tuổi.

Catullus at Lesbia's
Sir Lawrence Alma-Tadema
1865
Bài thơ "Gửi Lesbia" qua một số ngôn ngữ:

Ad Lesbiam

Valerii Catullus

Vivamus mea Lesbia, atque amemus,
rumoresque senum seueriorum
omnes unius aestimemus assis!
soles occidere et redire possunt:
nobis cum semel occidit breuis lux,
nox est perpetua una dormienda.
da mi basia mille, deinde centum,
dein mille altera, dein secunda centum,
deinde usque altera mille, deinde centum.
dein, cum milia multa fecerimus,
conturbabimus illa, ne sciamus,
aut ne quis malus inuidere possit,
cum tantum sciat esse basiorum.

Gửi Lesbia
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Lesbia, ta hãy sống, hãy yêu nhau
Mặc ai già cả thở dài than vắn
Ta sẽ không cho họ một cắc nào!
Mặc kệ mặt trời cứ lên rồi lặn.
Em hãy nhớ rằng ngày của ta chóng tàn
Ta về ngủ trong đêm dài vô tận.
Hãy hôn anh nghìn nụ hôn cháy bỏng
Rồi lại một nghìn, rồi lại một trăm
Còn khi đã hôn nhau cả trăm ngàn lần
Không cần biết và ta không cần đếm
Để ai ganh tỵ với ta đừng nói nhảm
Rằng hai chúng mình…
Đã hôn nhau cả vạn, cả ngàn.

Bản tiếng Anh:
Translated by Ben Johnson

Let us live, my Lesbia
and let us judge all the rumors of the old men
to be worth just one penny!
The suns are able to fall and rise:
When that brief light has fallen for us
we must sleep a never ending night.
Give me a thousand kisses, then another hundred,
then another thousand, then a second hundred,
then yet another thousand more, then another hundred.
Then, when we have made many thousands,
we will mix them all up so that we don’t know
and so that no one can be jealous of us when he finds out
how many kisses we have shared.

Bản tiếng Nga
Перевод Афанасия Фета

Жить и любить давай, о Лесбия, со мной!
За толки стариков угрюмых мы с тобой
За все их не дадим одной монеты медной.
Пускай восходит день и меркнет тенью бледной.
Для нас, как краткий день зайдёт за небосклон,
Настанет ночь одна и бесконечный сон.
Сто раз целуй меня, и тысячу, и снова
Ещё до тысячи, опять до ста другого,
До новой тысячи, до новых сот опять.
Когда же много их придётся насчитать,
Смешаем счёт тогда, чтоб мы его не знали,
Чтоб злые нам с тобой завидовать не стали,
Узнав, как много раз тебя я целовал.





3 October 2012

Tấm quảng cáo đính trên tường đầu giường Lolita


Tấm quảng cáo đính trên tường  đầu giường ngủ Lolita trong nhà Haze.

Cuối chương 16 có một đoạn mô tả giường ngủ Lolita như sau:

Tấm quảng cáo nguyên trang xé ra từ tờ tạp chí bóng loáng nào đó được đính vào mảng tường phía trên giường ngủ, giữa khuôn mặt chàng ca sỹ dòng nhạc tình êm ái và hàng mi cô diễn viên điện ảnh. Nó miêu tả người chồng trẻ có mái tóc sẫm màu với cái gì đó từa tựa như ánh nhìn kiệt sức trong đôi mắt Ai Len. Anh ta làm mẫu cho áo choàng của hãng nào đấy tôi chẳng nhớ và giữ cái khay hình cây cầu của hãng nào đấy tôi cũng chẳng nhớ, đựng bữa ăn sáng cho hai người. Dòng ghi chú, theo lời đức cha Thomas Morell, gọi anh là “Người hùng chiến thắng.” Quý cô hoàn toàn chiến bại (không thấy xuất hiện trên quảng cáo) có thể phỏng đoán là đang chống người ngồi dậy để nhận nửa của mình trên khay. Làm sao để bạn đồng sàng của nàng chui xuống dưới cầu mà không gặp vài hỗn độn khó lường, thì không rõ. 

Tấm quảng cáo này là có thật, và sản phẩm được quảng cáo trên nó là chiếc áo choàng của hãng Viyella, những dòng chú thích ở dưới cũng ít nhiều có liên quan đến vài trường đoạn trong Lolita, có lẽ Nabokov đã có khá nhiều ấn tượng với quảng cáo này.


1 October 2012

Sandro Botticelli

Chân dung tự họa của Botticelli
1475

Alessandro di Mariano di Vanni Filipepi, hay Sandro Botticelli hoặc ngắn gọn là Botticelli, là một họa sỹ người Ý nổi tiếng thời kỳ tiền Phục Hưng. Sinh năm 1445 (có những nguồn tin cho rằng ông sinh năm 1446, 1447 hoặc 1444) chết ngày 17 tháng 5 năm 1510. Trong những tác phẩm của ông có hai bức tranh rất nổi tiếng: The Birth of Venus và Primavera.

The Birth of Venus
Botticelli
1469
Oil in Canvas, 278.5cm x 172.5cm
Florence

Primavera
Botticelli
1477
Tempera on wood, 203cm × 314 cm
Uffizi Gallery, Florence, Italy